vanban.org

Bản án 76/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: cho anh Cao Xuân L ly hôn chị Cao Thị Hoa T.

Về quan hệ con chung: giao con chung là Cao Bảo L, sinh ngày 10/10/2017 cho anh Cao Xuân L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Cao Thị Hoa T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi Cao Bảo L, sinh ngày 10/10/2017 mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, chia con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho anh Cao Xuân L ly hôn chị Cao Thị Hoa T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 76/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 23/8/2022
V/v ly hôn giữa anh L và chị T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Đức Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Hồng Sâm, ông Cao Lương Bằng

- Thư ký phiên toà: ông Cao Lương Bằng – Thư ký Tòa án

- Đại diện VKSND huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: ông Tô Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2022/HNGĐ – TLST ngày 06 tháng 6 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/8/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Cao Xuân L; sinh năm 1990

Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: chị Cao Thị Hoa T; sinh năm 1998

Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/4/2022 và trong bản tự khai cũng như tại quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Cao Xuân L trình bày:

- về hôn nhân: anh L và chị T kết hôn năm 2017 tại UBND xã Trung Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, kể từ năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính tình, không cùng quan điểm sống, sống không hợp nhau, chị T luôn bỏ bê gia đình không chăm lo cho con cái, hai vợ chồng cũng đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh làm đơn yêu cầu được ly hôn với chị T.

- con chung của vợ chồng: hai vợ chồng có 01 con chung là cháu Cao Bảo L, sinh ngày 10/10/2017, hiện tại con đang ở với anh L, nguyện vọng của anh L là xin được nuôi dưỡng con.

- tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn chị Cao Thị Hoa T trình bày: chị T và anh L có đăng ký kết hôn như lời trình bày của anh L, quá trình chung có nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng cũng đã sống ly thân từ năm 2021. Hai vợ chồng có con chung như anh L trình bày và nguyện vọng của chị L cũng muốn trực tiếp nuôi dưỡng cháu L. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Chị T trình bày: về quan hệ hôn nhân: đồng ý ly hôn với anh L. Về con chung: nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con là Cao Bảo L, không yêu cầu anh L đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T hiện tại làm công nhân của công ty tại tỉnh Bình Dương, thu nhập hàng tháng từ 9.000.000 đ đến 10.000.000 đ. Tài sản chung và nợ chung: không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- về tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định tại các Điều 68, 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi không về giải quyết theo các giấy triệu tập của Tòa án.

- về nội dung: về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Cao Xuân L và chị Cao Thị Hoa T; về con chung: giao con chung là Cao Bảo L cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, buộc chị T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đ; về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét; anh L và chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: anh L yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với chị T, tranh chấp trong vụ án là quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại thôn Tiền Phong, xã Trung Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đồng ý xét xử vắng mặt nguyên đơn căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.

. Về quan hệ hôn nhân: anh L và chị T kết hôn với nhau vào năm 2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc và được UBND xã Trung Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn vì vậy đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

. Xét yêu cầu ly hôn của anh L: vợ chồng anh L và chị T không còn yêu thương, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau nữa thể hiện qua bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống, hai vợ chồng cũng đã sống ly thân từ năm 2021. Tòa án xét thấy tình trạng hôn nhân của anh L và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của anh L là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về con chung: hai vợ chồng có 01 con chung là cháu Cao Bảo L, sinh ngày 10/10/2017, cả anh L và chị T đều muốn được nuôi dưỡng cháu L, Hội đồng xét xử xét thấy: cháu L chung sống với anh L từ lúc cháu 02 tuổi cho đến nay nếu giao con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng sẽ thay đổi môi trường sống và ảnh hưởng đến tâm sinh lý của cháu L, xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của con cần giao cháu L cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 82 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình buộc chị Cao Thị Hoa T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi chung là cháu Cao Bảo L mỗi tháng 1.000.000 đ cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi.

. Về tài sản chung và khoản vay nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, anh L và chị T phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 116 và Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: cho anh Cao Xuân L ly hôn chị Cao Thị Hoa T.

2. Về quan hệ con chung: giao con chung là Cao Bảo L, sinh ngày 10/10/2017 cho anh Cao Xuân L trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Cao Thị Hoa T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi Cao Bảo L, sinh ngày 10/10/2017 mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom đển cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con thì cha, mẹ trực tiếp nuôi con, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về quan hệ tài sản chung và khoản vay chung: không có nên Tòa không xét.

4. Về án phí: anh Cao Xuân L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0000605 ngày 06/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.

Án phí cấp dưỡng định kỳ: chị Cao Thị Hoa T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/8/2022). Đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Quyền yêu cầu thi hành án dân sự: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Nghĩa vụ chậm thi hành án: kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong án, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Cỡ chữ