- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Nguyễn Thị Hồng Â- Phan Mạnh H ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng  và anh Phan Mạnh H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2022/HNGĐ-ST Ngày: 07-12-2022 “V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Trọng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hạnh.
2. Bà Võ Lệ Huyền.
-Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 254/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 06 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng  , sinh năm 1998.
Hộ khẩu thường trú: Tổ 32, thôn TP, xã Bàu Chinh, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
Chổ ở hiện nay: Tổ 27, thôn TP, xã Bàu Chinh, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
Bị đơn: Anh Phan Mạnh H, sinh năm 1997.
Hộ khẩu thường trú: Tổ 17, thôn TS, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
Chổ ở hiện nay: Tổ 17, thôn TS, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
(Chị Â có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, anh H vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:\
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng  trình bày: Sau khi tìm hiểu thì chị Nguyễn Thị Hồng  và anh Phan Mạnh H có tổ chức lễ cưới trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 18 tháng 02 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Bàu Chinh, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận và hạnh phúc. Đến cuối năm 2021 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, từ đó về sau mâu thuẫn xảy ra ngày càng nhiều. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng có nhiều khác biệt nên thường hay cải vả, chị  cố gắng nhịn nhục để vợ chồng hàn gắn hạnh phúc. Nhưng càng nhịn cuộc sống vợ chồng lại càng thêm mâu thuẫn, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Từ đó chị  xét thấy không thể sống chung được nên đã bỏ về bên gia đình cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Sau khi vợ chồng sống ly thân gia đình hai bên cũng cố gắng hàn gắn lại hạnh phúc của vợ chồng nhưng không có kết quả.
Nay chị Â thấy rằng cuộc sống gia đình bị rạng nức, không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không có lối thoát và mệt mõi. Từ đó chị Â yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giải quyết các vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng  yêu cầu được ly hôn với anh Phan Mạnh H.
Về nuôi con chung: Chị Â và anh H có 01 con chung là Phan Duy Kh, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2021. Hiện nay cháu Kh đang ở với chị Â, chị Â có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Phan Mạnh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do vì vậy không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về nuôi con chung: Chị Â và anh H có 01 con chung là Phan Duy Kh, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2021. Tiếp tục giao cháu Kh cho chị Â nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị Â không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Â không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Chị Â và anh H sống chung với nhau có đăng ký kết hôn, nay chị Â yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của anh H ở xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Â vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị Â.
Anh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt anh H.
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Â và anh H trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 02 năm 2021 tại UBND xã Bàu Chinh, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, từ cuối năm 2021 thì phát sinh mẫu thuẫn.
Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hơp, bất đồng quan điểm, có nhiều khác biệt không thể dung hòa nên thường xuyên cải vả, vợ chồng đã cố gắn nhẫn nhịn để gây dựng hạnh phúc. Nhưng cuộc sống vợ chồng vẫn không cải thiện được và ngày trầm trong hơn. Từ đó vào cuối năm 2021 thì chị Â xét thấy cuộc sống chung của vợ chồng không được hạnh phúc nên đã bỏ về bên gia đình cha mẹ để sinh sống. Cũng từ đó vợ chồng sống ly thân, trong quá trình sống ly thân gia đình hai bên vẫn khuyên ngăn và hòa giải cho vợ chồng hàn gắn lại nhưng không đạt kết quả.
Từ những mâu thuẫn kéo dài, thường xảy ra cãi vã xung đột nên dẫn đến vợ chồng không còn tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng trở nên buồn chán, và ngày càng căng thẳng làm cho vợ chồng không còn muốn gần gũi. Do mâu thuẫn kéo dài mà không được xoa dịu và hàn gắn nên làm cho mâu thuẫn ngày trầm trọng hơn.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của chị Â, Tòa án đã tiến hành triệu tập anh H để làm việc và hoà giải về quan hệ hôn nhân, nhưng anh H vẫn cố tình không đến, không lý do, điều đó chứng tỏ anh H không có thiện chí để đoàn tụ với chị Â để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nuôi dạy con chung. Ngoài ra theo kết quả xác minh thì mâu thuẫn giữa chị Â và anh H là có thật. Từ khi vợ chồng mâu thuẫn đến nay đã trải qua một thời gian dài khá lâu nhưng vợ chồng cũng không có biện pháp gì để hàn gắn lại hạnh phúc của gia đình.
Như vậy, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Â và anh H ngày càng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Â được ly hôn với anh H.
Về nuôi con chung: Chị Â và anh H có 01 con chung là Phan Duy Kh, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2021. Hiện nay cháu Kh sống với chị Â, Nay chị Â yêu cầu tiếp tục nuôi và không yêu cầu anh H phảỉ cấp dưỡng nuôi con chung. Thấy từ khi vợ chồng sống ly thân chị Â là người trực tiếp nuôi dạy cháu Kh. Cháu Kh vẫn phát triển và khỏe mạnh. Để không gây xáo trộn cuộc sống của cháu Kh. Áp dụng khoản 3 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nghĩ nên giao cháu Kh cho chị Â nuôi dưỡng là có căn cứ.
Về cấp dưỡng chị Â không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nghĩ nên ghi nhận sự tự nguyện của chị Â.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Â không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chị Â phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 56, khoản 3 điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng  và anh Phan Mạnh H.
2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng  và anh Phan Mạnh H có 01 con chung là Phan Duy Kh, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2021. Giao cho chị Nguyễn Thị Hồng  tiếp tục nuôi cháu Kh. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Â, anh Phan Mạnh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Phan Mạnh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng  phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà chị  đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007990 ngày 07 tháng 6 năm 2022; Chị Nguyễn Thị Hồng  nộp xong án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07-12-2022) các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xin xét xử phúc thẩm, đối với các đương sự vắng mặt được tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh BR- VT; - VKSND H. Châu Đức; - Các đương sự; - Chi cục THADS H. Châu Đức; - UBND xã Bàu Chinh; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Trọng Hải |