vanban.org

Bản án 76/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 05/05/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị A.

Về việc xác định cha cho con: Xác định anh Phạm Văn Đ là cha đẻ của cháu gái do chị Ngô Thị A sinh ra với tên dự sinh là Phạm Su Su vào ngày 04/5/2020 theo Giấy chứng sinh số 0003335 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La. Về án phí dân sự và phí ủy thác tư pháp: Anh Phạm Văn Đ phải nộp 300.000 đồng án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Anh + Đông"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị A.
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2022/HNGĐ-ST
Ngày 05-5-2022
V/v tranh chấp xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 122/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2021 về việc tranh chấp xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị A, nơi cư trú: Tân Lập, phường Tân Thành, quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Phạm Văn Đ, nơi cư trú: Tân Lập, phường Tân Thành, quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn xét xử vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Woo M, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 501, 27 Suemi-ro217beongil (Oncheon-dong, hyeoneun Apart.), Dongrae-gu Busan, Hàn Quốc; vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn chị Ngô Thị A trình bày:

Chị và anh Woo M kết hôn, sau đó được Tòa án Hàn Quốc giải quyết cho ly hôn vào ngày 27/02/2020. Việc ly hôn của chị và anh Woo M được ghi chú tại Việt Nam. Trong quá trình chưa ly hôn với anh Woo M nhưng anh chị sống ly thân, chị có quan hệ tình cảm với anh Phạm Văn Đ từ năm 2019 trên cơ sở tự nguyện của hai bên. Sau đó, chị mang thai và sinh ra cháu gái tên dự sinh là Phạm Su Su vào ngày 04/5/2020 theo Giấy chứng sinh số 0003335 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La. Hiện tại chị và anh Phạm Văn Đ đã kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND phường Tân Thành, quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/11/2020. Nay chị đề nghị Tòa án xác nhận anh Phạm Văn Đ là cha đẻ của cháu gái mà chị sinh ra như trên để chị làm thủ tục giấy khai sinh cho cháu.

Tại bản tự khai của bị đơn anh Phạm Văn Đ trình bày:

Anh thống nhất với lời khai của chị Ngô Thị A về việc xác nhận cha cho con. Anh đề nghị TAND thành phố Hải Phòng xác nhận cháu gái tên dự sinh là Phạm Su Su vào ngày 04/5/2020 theo Giấy chứng sinh số 0003335 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La là con đẻ của anh với chị Ngô Thị A.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Woo M:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành việc ủy thác thông qua Bộ Tư pháp. Ngày 07/3/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được Công văn số 444/BTP-PLQT ngày 25/02/2022 của Bộ Tư pháp thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp đối với anh Woo M thể hiện: Cơ quan có thẩm quyền của Hàn Quốc đã gửi văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng cho anh Woo M qua đường bưu điện nhưng bưu điện không thể giao được cho anh Woo M (đóng cửa, vắng mặt). Để đảm bảo giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc thông báo công khai trên Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc và niêm yết tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc đối với anh Woo M. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã thông báo công khai trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và niêm yết tại Trụ sở TAND thành phố Hải Phòng đối với anh Woo M.

Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt, chị Ngô Thị A và anh Phạm Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ý kiến và không có sự thay đổi nội dung tại đơn khởi kiện và bản tự khai.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đa chấp hành đúng cã

́c quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng dân sự ; nguyên đơn, bị đơn đa thực hiện đũ

́ng các quyền và nghia vu ̣ đúng̃ theo quy định của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự . Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 288, điểm b khoản 5 Điều 477, điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác định anh Phạm Văn Đ là cha đẻ của cháu gái do chị Ngô Thị A sinh ra với tên dự sinh là Phạm Su Su vào ngày 04/5/2020 theo Giấy chứng sinh số 0003335 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La. Về án phí dân sự sơ thẩm và phí ủy thác tư pháp: Do yêu cầu của chị Ngô Thị A được chấp nhận nên anh Phạm Văn Đ chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xác nhận cha cho con và phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chị Ngô Thị A xin tự nguyện chịu chi phí ủy thác cho anh Phạm Văn Đ nên được chấp nhận. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc xác định cha cho con, nguyên đơn chị Ngô Thị A và bị đơn anh Phạm Văn Đ đều đang sinh sống tại Hải Phòng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Woo M là người nước ngoài và sinh sống tại Hàn Quốc, theo quy định tại khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt nhưng nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Woo M, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành thực hiện các biện pháp đối với anh Woo M theo đúng quy định theo khoản 3 Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Woo M vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Do đó, căn cứ vào Điều 227, Điều 228; điểm b khoản 5 Điều 477, điểm c khoản 6 Điều 477 BLTTDS, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị A về việc xác định cha cho con: Theo lời khai của chị Ngô Thị A và anh Phạm Văn Đ đều thống nhất thể hiện: Cháu gái do chị Ngô Thị A sinh ra với tên dự sinh là Phạm Su Su vào ngày 04/5/2020 theo Giấy chứng sinh số 0003335 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La là con đẻ của chị Ngô Thị A và anh Phạm Văn Đ. Tại Kết quả xét nghiệm ADN ngày 04/8/2021 của Công ty TNHH Dịch vụ khoa học kỹ thuật Genpro thể hiện: Anh Phạm Văn Đ có quan hệ huyết thống cha-con với người có mẫu ghi tên Phạm Su Su, với độ tin cậy 99,999999%. Từ phân tích nêu trên, căn cứ vào Điều 88, Điều 89, Điều 91 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhâ ̣n yêu cầu của chị Ngô Thị A xác định anh Phạm Văn Đ là cha đẻ của cháu Phạm Su Su.

Về án phí dân sự sơ thẩm và phí ủy thác tư pháp:

Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện về việc xác định cha cho con của chị Ngô Thị A được chấp nhận nên anh Phạm Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Phí ủy thác tư pháp: Chị Ngô Thị A xin tự nguyện chịu phí ủy thác tư pháp theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101, Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; điểm b khoản 5, điểm c khoản 6 Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị A.

1. Về việc xác định cha cho con: Xác định anh Phạm Văn Đ là cha đẻ của cháu gái do chị Ngô Thị A sinh ra với tên dự sinh là Phạm Su Su vào ngày 04/5/2020 theo Giấy chứng sinh số 0003335 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La.

2. Về án phí dân sự và phí ủy thác tư pháp: Anh Phạm Văn Đ phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị Ngô Thị A tự nguyện 200.000 đồng phí ủy thác tư pháp nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đồng phí ủy thác tư pháp đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0019906 ngày 03 tháng 8 năm 2021 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Ngô Thị A đã nộp đủ tiền phí ủy thác tư pháp.

3. Về quyền kháng cáo:

Chị Ngô Thị A và anh Phạm Văn Đ (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Anh Woo M (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ