- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hiếp dâm - phạm tội hiếp dâm (điều 141 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Lâm Quốc B phạm tội “Hiếp dâm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN B TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2021/HS-ST Ngày 19/10/2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN B - TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ban – Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu.
Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy – Phó Ban dân vận thị xã Điện Bàn.
- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2021, tại Toà án nhân dân thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2021 và thông báo về thời gian xét xử số 62/2021/TB-TA ngày 01/10/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Lâm Quốc B – Tên gọi khác: Không, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2003, tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Tr, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Học Sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà: Lê Thị Minh Ng
- Sinh năm: 1978.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Điện Thắng Tr, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Lê Thị Minh Ng, Sinh năm 1978, Thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Tr, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam. (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Trí B1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Nam (có mặt).
- Người bị hại: Phan Diễm Ph, sinh ngày: 06 tháng 01 năm 2003.
Nơi cư trú: Thôn Phong Lục T, xã Điện Thắng N, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
Ông Phan Đức Ph1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1971. Cùng trú tại: Thôn Phong Lục T, xã Điện Thắng N, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Thanh H, sinh năm 2002, trú tại thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Tr, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam, (Vắng mặt).
Đại diện Trường Trung học phổ thông Nguyễn Khuyến: Ông Đặng X, chức vụ: Phó hiệu trưởng. Địa chỉ xã Điện Thắng Tr, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 12 tháng 10 năm 2020, Phan Diễm Ph cùng với Nguyễn Hữu R đến nhà bị cáo Lê Lâm Quốc B thuộc thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Tr, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam để ăn bánh xèo. Ph, R và bị cáo B là bạn cùng lớp. Đến nơi thì gặp Đỗ Thị Thanh M, là bạn học cùng lớp, Phạm Thanh H và một số người bạn của bị cáo B cùng bị cáo B đang ăn bánh xèo, uống rượu Vodka, Ph và R vào ngồi cùng tham gia.
Khi uống được khoảng 02 ly rượu thì Ph bắt đầu nói lung tung, ngồi không vững và dựa vào người R. Sau khi uống hết 02 chai rượu Vodka thì bị cáo B mang rượu chuối hột đựng trong vỏ chai trà xanh 0o ra uống, Ph uống thêm nửa ly rượu chuối hột thì say không ngồi được nên bị cáo B và R dìu Ph lên phòng bà Lê Thị Minh Ng là mẹ của bị cáo B nằm nghỉ.
Thấy Ph nôn mửa trong phòng, bà Lê Thị Minh Ng xuống nói mọi người nghỉ không uống nữa, sau đó một số bạn của bị cáo B ra về, chỉ còn lại bị cáo B, M, R và H. Lúc này, R và M lên phòng gọi Ph về nhưng Ph vẫn còn say và tiếp tục nôn mửa. Sau khi dọn dẹp xong, M và R gọi Ph về lần nữa nhưng Ph vẫn bất tỉnh nên M, R về trước và nhờ H ở lại chở Ph về sau.
Sau khi M, R về trước, bị cáo B lên phòng thấy Ph mặc váy nằm trên giường một mình. Lợi dụng Ph đang trong tình trạng say rượu không còn nhận thức, bị cáo B lên giường nằm với Ph, hôn miệng và dùng tay sờ ngực Ph. Sau đó, bị cáo B ngồi dậy cởi quần đùi và quần lót của mình xuống dưới đầu gối rồi tiếp tục cởi quần lót của Ph ra. Lúc này, Ph nằm ngửa, bị cáo B quỳ gối giữa hai chân Ph rồi cầm dương vật của mình đưa vào trong âm đạo của Ph và thực hiện hành vi giao cấu. Khoảng 02 phút sau thì bị cáo B xuất tinh vào trong âm đạo của Ph. Đúng lúc này, H vào phòng thì thấy bị cáo B đang nằm úp trên người Ph. Thấy H, bị cáo B bật dậy mặc quần của mình và mặc lại quần lót cho Ph, trong khi đó Ph vẫn nằm yên trên giường và không có phản ứng. Sau đó, bị cáo B nhờ H đi mua thuốc tránh thai khẩn cấp về rồi bị cáo B cầm thuốc đưa vào miệng Ph và dùng muỗng múc nước chanh cho Ph uống, lúc này Ph vẫn nằm bất tỉnh trên giường. Một lúc sau, Ph tỉnh dậy nghe bị cáo B và H đang nói chuyện với nhau thì Ph nói: “Sao tụi mày ác với tao rứa?” rồi điện thoại cho bạn của mình là Lê Hữu Tr đến chở về.
Căn cứ Bản giám định pháp y về tình dục số 395/GĐTT.20 ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận tổn thương tại cơ quan sinh dục của Phan Diễm Ph: Màng trinh rách cũ ở các vị trí: 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ, 6 giờ, 8 giờ, 10 giờ, 12 giờ (trong đó vị trí 3 giờ rách ở bờ tự do, các vị trí khác rách đến bờ cố định); Không tổn thương xương; Không thấy dấu hiệu thần kinh lưu trú.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 chiếc váy màu cam của Phan Diễm Ph; 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Lê Lâm Quốc B. Chuyển Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện B theo quy định.
Về dân sự: Người bị hại yêu cầu giải quyết sau nên không đề cập đến.
Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 26 tháng 5 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện B đã truy tố bị cáo Lê Lâm Quốc B để xét xử về tội “Hiếp dâm” quy định tại khoản 4 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Lâm Quốc B để xét xử về tội “Hiếp dâm ” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 4 Điều 141; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 101 của BLHS năm 2015 xử phạt: bị cáo Lê Lâm Quốc B từ 45 tháng tù đến 50 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Ph và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Người bị hại bà Ph không yêu cầu trả lại một chiếc váy màu cam nên đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy; hoàn trả 01 điện thoại di động hiệu Oppo cho Lê Lâm Quốc B.
Bị cáo Lê Lâm Quốc B và đại diện hợp pháp cho bị cáo bà Lê Thị Minh Ng thống nhất với cáo trạng tuy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo, Nguyễn Trí B1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Nam trình bày: Thống nhất với cáo trạng tuy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo có thành tích trong học tập được nhà trường tặng giấy khen và bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 3.000.000đ (đã nộp tại Chi cục Thi hành án thị xã Điện B); do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các điểm b, s và v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 54 Bộ luật hình sự và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện B.
Người bị hại bà Phan Diễm Ph và người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Phan Đức Ph1 và bà Nguyễn Thị Th trình bày: Thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện B truy tố bị cáo Lê Lâm Quốc B về tội “Hiếp dâm”. Bị cáo đã lợi dụng việc say rượu của người bị hại để thực hiện hành vi quan hệ tình dục và đề nghị Hội đồng xét xử đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, người bị hại và người đại diện hợp pháp cho người bị hại không yêu cầu.
Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo tiếp tục được học tập tại trường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xét xử vắng mặt.
Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Điện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không tội: Vào khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 12 tháng 10 năm 2020, Phan Diễm Ph cùng với Nguyễn Hữu R đến nhà bị cáo B thuộc thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Tr, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam để ăn bánh xèo và uống rượu. Lợi dụng lúc chị Ph đang trong tình trạng say rượu, không thể tự vệ được, bị cáo đã có hành vi giao cấu trái ý muốn của chị Ph. Tại thời điểm xảy ra vụ việc (ngày 12 tháng 10 năm 2020) theo tài liệu có trong hồ sơ về độ tuổi của Phan Diễm Ph thì Phúc mới 17 tuổi 09 tháng 06 ngày.
Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cáo B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo B được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng với bản ảnh hiện trường, Kết luận giám định pháp y về tình dục và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Lâm Quốc B đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 4 Điều 141 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đánh giá, tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo Lê Lâm Quốc B là thanh niên tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng, đạo đức mà lại có hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo phải nhận thức rõ hành vi hiếp dâm là hành vi dâm dục trái với đạo đức, thể hiện sự ham muốn tình dục quá độ, không chính đáng nhưng để thoả mãn dục vọng của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi hiếp dâm đối với người dưới 18 tuổi. Bị cáo cố ý thực hiện tội phạm, lợi dụng tình trạng người bị hại không thể tự vệ được (do say rượu).
Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, gây dư luận không tốt và bất bình trong quần chúng nhân dân, làm tăng thêm sự phức tạp về tình hình trật tự trị an tại nơi xảy ra vụ án, xâm phạm đến thân thể, nhân phẩm, danh dự của bị hại một cách trái pháp luật. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.
Về tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình: Bị cáo B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo hiện nay đang là sinh viên học tập tại trường Đại học Luật Huế. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án trong mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát cũng đủ sức răn đe và cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo; đồng thời cũng đủ thời gian giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Bị cáo khi phạm tội là người dưới 18 tuổi (tại thời điểm phạm tội, bị cáo B mới đủ 17 tuổi 09 tháng 02 ngày) và bị cáo không có cha nên thiếu sự giáo dục trong gia đình. Do đó, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội chưa đầy đủ; HĐXX xem xét áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 91 và Điều 101 BLHS năm 2015 khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình làm việc, cũng như tại phiên tòa người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xét. Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 3.000.000 đồng theo biên lai thu số 002109 ngày 01/07/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhằm hỗ trợ về tinh thần cho bị hại, nhưng tại phiên tòa người bị hại không nhận số tiền trên; do đó Hội đồng xét xử xem xét trả lại số tiền bị cáo đã nộp là 3.000.000 đồng theo biên lai thu số 002109 ngày 01/07/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam là phù hợp.
Tại phiên tòa bị cáo khai có bà cố ngoại là bà Đỗ Thị L là mẹ liệt sĩ Lê L1 là người đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, bản thân bị cáo B là người có những thành tích khen thưởng trong học tập đây không phải là đối tượng được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm x, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 và điểm c mục 5 Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Đối với lời đề nghị của người bào chữa đề nghị áp dụng các điểm b, s và v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận một phần đề nghị và không chấp nhận áp dụng các điểm b, v khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tạm giữ 01 chiếc váy màu cam của Phan Diễm Ph, chị Ph yêu cầu nhận lại và xét thấy không còn giá trị nên HĐXX cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Lê Lâm Quốc B, xét thấy không liên quan đến vụ án, nên HĐXX tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Lâm Quốc B phạm tội “Hiếp dâm”.
Áp dụng: Khoản 4 Điều 141, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 413, Điều 414, Điều 416 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Lâm Quốc B 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam để thi hành án phạt tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 chiếc váy màu cam của Phan Diễm Ph; hoàn trả cho Lê Lâm Quốc B 01 điện thoại di động hiệu Oppo.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện B theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2021).
Tuyên trả cho bị cáo Lê Lâm Quốc B số tiền 3.000.000 đồng theo biên lai thu số 002109 ngày 01/07/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Lâm Quốc B phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND thị xã Điện B; - CQĐT,CQTHAHS thị xã; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Chi cục THADS thị xã; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Nam - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nam Trung |