- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 107 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76 /2021/HSST Ngày 24/3/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Anh;
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm; Ông Đỗ Như Vũ
. - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Anh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 24/3/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2021/HSST ngày 20/01/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2021/QĐXXST-HS ngày 05/3/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1996; HKTT: Thôn 8, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958; Con bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1960; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là thứ 5.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại Bản án số 16/2016/HSST ngày 24/3/2016 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt L 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 tội L phải chấp hành là 18 tháng tù.
Tại Bản án số 37/2016/HSST ngày 26/5/2016 của Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt L 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 tội L phải chấp hành là 30 tháng tù. Tổng hợp với Bản án số 16/2016/HSST ngày 24/3/2016 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, buộc L phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 48 tháng tù. Ngày 25/9/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; chưa chấp hành xong án phí và thu sung quỹ Nhà nước.
Nhân thân:
Tại Bản án số 85/2013/HSST ngày 14/11/2013 của Toà án nhân dân huyện thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt L 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 tội L phải chấp hành là 21 tháng tù.
Ngày 15/02/2011 bị Chủ tịch UBND huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời gian 24 tháng. Chấp hành xong ngày 01/10/2012;
Tại bản án số 15/2021/HS-PT ngày 18/3/2021 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử 05 năm về tội cướp giật tài sản và 03 năm 06 tháng về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2020. (bản án đã có hiệu L pháp luật)
Bị cáo đang bị tạm tam trong vụ án khác theo lệnh tạm giam của Tòa án
nhân dân tỉnh Bắc Ninh – Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Võ Thị T, sinh năm 1998 (vắng mặt)
HKTT: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/10/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, nhận được đơn trình báo của chị Võ Thị T về việc tối ngày 12/7/2020 đến sáng ngày 13/7/2020 chị bị mất trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen, BKS: 12 D1-242.53 tại nhà trọ ở khu T, phường K, thành phố B. Nhận được tin báo trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh sau khi thụ lý đã tiến hành xác minh, điều tra. Cùng ngày 12/10/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, nhận được thông báo của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Bắc Ninh về việc Cơ quan điều tra Công an huyện Q khởi tố Nguyễn Văn L về tội “Cướp giật tài sản” tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Bắc Ninh, qua đấu tranh L khai nhận L còn thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen, BKS: 12 D1-242.53 tại địa bàn thành phố Bắc Ninh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Bắc Ninh tiến hành khám xét tại phòng trọ của L tại thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang thì phát hiện và thu giữ được chiếc xe mô tô Honda Vision màu đỏ đen, BKS: 12 D1-242.53. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Bắc Ninh bàn giao chiếc xe nêu trên (kèm theo 02 chìa khoá xe) cùng các tài liệu liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 12/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã ra văn bản yêu cầu định giá tài sản. Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 208/KL-HĐ ngày 12/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố Bắc Ninh kết luận: trị giá 01 chiếc xe mô tô Honda Vision màu đỏ đen, BKS: 12 D1-242.53, đã qua sử dụng là: 20.000.000 đồng.
Cáo trạng số 09/CT - VKSNDTPBN ngày 14/01/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình:
Khoảng tháng 5/2020 Nguyễn Văn L thuê trọ tại gia đình ông Nguyễn Đăng X ở Khu T, phường K, thành phố B. Tại đây, L quen biết với chị Võ Thị T ở cùng khu trọ. Chị T có chiếc xe mô tô Honda Vision màu đỏ đen, BKS: 12 D1-242.53, L thỉnh thoảng mượn chiếc xe này của chị T làm phương tiện đi lại. Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe của chị T. Ngày 10/7/2020, L mượn chiếc xe của chị T, sau đó mang ra một cửa hàng sửa chữa khoá xe (L không nhớ tên, địa chỉ cửa hàng) đánh thêm 01 chìa khoá điện; 01 chìa khoá càng của xe chị T, sau đó L mang xe trả lại chị T. Khoảng 02 giờ ngày 13/7/2020, khi L đang ở phòng trọ của L thì L nhìn thấy chiếc xe của chị T để ở sân dãy trọ. Thấy không có ai trông giữ chiếc xe nên L quyết định trộm cắp chiếc xe. L tiến lại gần chiếc xe, kiểm tra thấy xe có khoá cổ, khoá càng, L dùng 02 chìa khoá đã đánh từ trước để mở khoá điện và khoá càng của xe. Sau khi mở được các ổ khoá, L dắt xe ra phía ngoài cổng khu trọ, nổ máy, điều khiển chiếc xe về thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Khi đến một quán bán hàng nước ven đường (L không nhớ chính xác vị trí), L dừng xe để ngồi uống nước, sau đó L gửi lại chiếc xe tại quán rồi bắt xe khách về thành phố Bắc Ninh để quay lại khu trọ. Khoảng 15 ngày sau, L chuyển đến thuê trọ tại một phòng trọ tại huyện V, tỉnh Bắc Giang. L quay lại nơi đã gửi xe, lấy lại chiếc xe đã trộm cắp mang về phòng trọ cất giấu. Sau đó bị bắt về hành vi cướp giật ở Quế Võ, L đã khai về hành vi trộm cắp này và cơ quan công an đã khám xét phòng trọ của L và thu giữ chiếc xe trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử :
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng Khoản 1, Điều 173; Điểm h, Khoản 1, Điều 52; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 BLHS xử phạt:
Nguyễn Văn L từ 24 đến 28 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 15/HS-PT ngày 18/3/2021: Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả 02 bản án là từ 10 năm 6 tháng đến 10 năm 10 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc chìa khóa xe mô tô.
Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với Viện kiểm sát mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, Kiểm sát viên: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về chứng cứ buộc tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người bị hại, bản kết luận định giá, vật chứng thu được và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 02 giờ ngày 13/7/2020, tại khu nhà trọ gia đình ông Nguyễn Đăng X, ở Khu T, phường K, thành phố B, Nguyễn Văn L đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô Honda Vision màu đỏ đen, BKS: 12D1-242.53 trị giá là: 20.000.000 đồng của chị Võ Thị T.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, phạm vào Khoản 1, Điều 173 BLHS mà Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ®· x©m ph¹m ®Õn quyÒn sở hữu tµi s¶n cña công dân, g©y mÊt trËt tù trÞ an trªn ®Þa bµn thành phố, g©y hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân. Do vËy, cÇn ph¶i cã h×nh ph¹t nghiªm kh¾c nh»m gi¸o dôc bÞ c¸o vµ phßng ngõa chung.
Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 04 lần bị Tòa án kết án và 01 lần bị đưa vào cơ sở giáo dục. Song, xét thấy, do khi thực hiện hành vi phạm tội tại bản án số 85/2013/HSST ngày 14/11/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh bị cáo 17 tuổi và phạm tội ít nghiêm trọng. Do vậy, căn cứ vào Khoản 1, Điều 107 BLHS 2015 và Nghị quyết số 41/2917/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội thì hành vi phạm tội của bị cáo tại bản án này không bị coi là án tích.
Do hành vi phạm tội của bị cáo tại bản án số 37/2016/HSST ngày 26/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đông Triều xảy ra trước hành vi phạm tội của bị cáo tại bản án số 16/ 2016/HSST ngày 24/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nên bản án 37/2016/HSST ngày 26/5/2016 không tính hành vi phạm tội của bị cáo tại bản án số 16/ 2016/HSST ngày 24/3/2016 là tái phạm. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo cũng chỉ xác định bị cáo có 01 tiền án. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm h, Khoản 1, Điều 52 BLHS.
Đối với bản án số 15/2021/HS-PT ngày 18/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Xét thấy, hành vi phạm tội lần này xảy ra trước hành vi phạm tội xét xử tại bản án số 15/2021/HS-PT ngày 18/3/2021, do đó bản án số 15/2021/HS-PT ngày 18/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh cũng không coi là tái phạm. Song, bản án này đã có hiệu L pháp luật nên căn cứ vào Điều 56 BLHS, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả 02 bản án.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại là chị Võ Thị T, chị T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, nghề nghiệp không ổn định, sống phụ thuộc gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Chiếc xe xe mô tô Honda Vision màu đỏ đen, BKS: 12D1-242.53 đã thu hồi trả cho người bị hại nên không xem xét.
Đối với 02 chìa khoá thu giữ của L, đây là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm h, Khoản 1, Điều 52; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 47 BLHS; Điều 106; Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/QH ngày 31/12/2016 của Quốc Hội.
Xử phạt: Nguyễn Văn L 02 (hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 08 năm 06 tháng tù của bản án số 15/2021/HS-PT ngày 18/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả 02 bản án là 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2020.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe mô tô chuôi chìa khóa màu đen; 01 chìa khóa mở càng (chữ U)
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND thành phố Bắc Ninh; - Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Ngọc Anh |