- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2021/HSST Ngày: 22/4/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quang Mẫn;
2. Bà Nghiêm Thị Xuân Huê.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Mỹ Trà, cán bộ Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2021/HSST ngày 17 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 355/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Thanh P, sinh ngày 06/12/1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Thường trú: X Võ Văn Kiệt, phường Cô Giang, Quận 1,Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: X Võ Văn Kiệt, phường Cô Giang, Quận 1,Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông không rõ, con bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1971; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 04 người con; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: 01. Ngày 06/3/2019, bị Công an quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/10/2019, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng (Bản án số 150/2019/HSST).
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 01/01/2021 đến nay (có mặt).
Người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: Bà Trần Thị Kim D, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: X Tôn Đản, Phường 8, Quận 4, Tp. Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Phước K, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Địa chỉ: X Dương Quảng Hàm, Phường 5, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/12/2020, Trần Thanh P đến cửa hàng điện thoại di động “S”, X Cống Quỳnh, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, để gửi 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS cho chị Trần Thị Kim D (là nhân viên cửa hàng) để sửa chữa. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, P quay lại cửa hàng để nhận lại điện thoại đã gửi sửa trước đó như đã hẹn. Trong lúc chị D trả lại điện thoại, P nhìn thấy trên quầy thu ngân có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lợi dụng lúc chị D không chú ý, P đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại trên quầy bỏ vào túi quần rồi bỏ về. Khoảng 17 giờ cùng ngày, P đem điện thoại vừa trộm cắp được bán cho anh Trần Phước K (là nhân viên của cửa hàng F, số X đường Ba Tháng Hai, Phường 11, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh) với giá 4.500.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi P bỏ đi, chị D kiểm tra thì phát hiện mất 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng của anh Trương Tuấn A (là người gửi điện thoại cho chị D để sửa chữa). Chị D xem lại camera thì phát hiện P lấy trộm nên đến Công an Phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 trình báo sự việc.
Qua truy xét, ngày 30/12/2020, Cơ quan điều tra Công an Quận 1 đã bắt giữ P và đưa về trụ sở làm rõ hành vi.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 336/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 1, kết luận 01 điện thoại di động Iphone XS, dung lượng 64Gb trị giá là 9.250.000 đồng.
Quá trình điều tra P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của P phù hợp với nhau và phù hợp với hình ảnh camera, lời khai bị hại, nhân chứng và các tài liệu chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được.
Đối với Trần Phước K khai nhận khi mua không biết điện thoại trên là do P trộm cắp mà có, lời khai của K phù hợp với lời khai của P nên không xử lý Trần Phước Khang về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có cơ sở.
* Vật chứng vụ án gồm có:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu vàng, số Imei: 356169093098369 đã trả lại cho chị Trần Thị Kim D.
- Thu giữ của Trần Thanh P:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, màu xanh (đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của P);
- 01 áo thun ngắn tay màu hồng và 01 quần đùi kaki màu nâu.
Hiện Cơ quan CSĐT – Công an Quận 1 đang tạm giữ vật chứng trên.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Trần Thị Kim D không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
- Gia đình Trần Thanh P đã trả lại số tiền 4.500.000 đồng cho anh Trần Phước K nên anh K không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSQ1 ngày 15 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thanh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa kết luận bị cáo Trần Thanh P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, ngày 31/10/2019, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án, do bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện tội phạm do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm do đó áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Căn cứ quy định tại các Điều 56, 65 của Bộ luật Hình sự tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù theo Bản án số 150/2019/HSST ngày 31/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Đối với vật chứng của vụ án, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đề nghị: Trả lại cho Trần Thanh P 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, màu xanh là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay màu hồng và 01 quần đùi kaki màu nâu thu giữ của bị cáo do không còn giá trị sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá quá trình điều tra được thẩm tra tại phiên tòa, thông qua quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 12 giờ ngày 29/12/2020, tại cửa hàng điện thoại di động “S”, số X Cống Quỳnh, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Trần Thanh P có hành vi lợi dụng sự sơ hở trong việc trông giữ tài sản của bị hại chị Trần Thị Kim D lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu trắng, 64Gb trị giá 9.250.000 đồng (Căn cứ kết luận định giá tài sản số 336/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 1), đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân, muốn có tiền tiêu xài cho bản thân mà không phải lao động nên vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, mà lại tiếp tục thực hiện tội phạm do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe đối với bản thân bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa, nhận thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Ngày 31/10/2019, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Do bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách nên ngoài việc chấp hành hình phạt của bản án này bị cáo còn phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn đối với bản án số 150/2019/HSST ngày 31/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo quy định tại các Điều 56, 65 của Bộ luật Hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Phước K không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không xem xét giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho Trần Thanh P 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, màu xanh; Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay màu hồng và 01 quần đùi kaki màu nâu;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt Trần Thanh P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của Bản án số 150/2019/HSST ngày 31/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2021.
- Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, màu xanh (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 14/21-PNK ngày 02/02/2021) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
+ Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay màu hồng và 01 quần đùi kaki màu nâu (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 14/21-PNK ngày 02/02/2021).
- Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Thanh P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng các Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Công an TP.HCM (PC 53 - Đ3); - Tòa án nhân dân TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 1; - Công an Quận 1; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1; - Thi hành án hình sự Quận 1; - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |