vanban.org

Bản án 76/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 06/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lý Phol L, phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Lý Phol L 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2021. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Phol L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lý Phol L, phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2021/HS-ST
Ngày: 6 - 10 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Phước.

Ông Hà Văn Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Lý Phol L, sinh năm 1993 tại Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: xã B, huyện TĐ, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý H (đã chết) và bà Kim Thị L; vợ: không, con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: vào ngày 28/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện LP áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong vào tháng 9/2020; bị cáo bị giam từ ngày 12/5/2021 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại:

Chị Phạm Thị Huyền Tr, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khóm S, Phường S, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn xin vắng).

Chị Võ Thị Lệ Tr1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Khóm C, Phường B, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

Bà Phạm Thị T, sinh năm 1962. Địa chỉ: Khóm M, Phường H, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

Chị Nguyễn Thị Yến Ng, sinh năm 1998. Địa chỉ: thị trấn KS, huyện KS, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn xin vắng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lý Phol L là người không có nghề nghiệp. Trong khoảng thời gian từ ngày 07 tháng 02 năm 2021 đến ngày 24 tháng 02 năm 2021, nhiều lần thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của người khác trên địa bàn thành phố ST và huyện KS, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào ngày 07/02/2021, Phol L điều khiển xe mô tô hiệu Exciter, biển số 83C1-649.22, màu đỏ đen, đến trước khóm S, phường S, thành phố ST, thấy không có người nên Phol L chạy đến phòng số 09 của chị Phạm Thị Huyền Tr và dùng một thanh sắt cạy bung khoen cửa, đột nhập vào phòng lấy trộm được số tiền 200.000 đồng. Đối với chị Tr, sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản đã đến Cơ quan Công an trình báo. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố ST, Phol L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Phạm Thị Huyền Tr yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 200.000 đồng.

Lần thứ hai: Vào ngày 11/02/2021, Phol L điều khiển xe mô tô hiệu Exciter 150, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 83C1–64922 đến huyện KS chơi nhưng vì hết tiền tiêu xài cá nhân nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của người khác. Khi đến Nhà trọ H, thuộc thị trấn KS, huyện KS, tỉnh Sóc Trăng, Phol L quan sát thấy không có ai trông coi nên chạy xe vào phòng số 06 của chị Nguyễn Thị Yến Ng và dùng một thanh sắt cạy bung ổ khóa cửa, lấy trộm được một cái laptop, hiệu Lenovo, màu bạc và số tiền 327.000 đồng. Sau khi lấy được tài sản, Phol L đem laptop bán cho một người đàn ông không quen biết tại công viên BĐ, thành phố ST với giá 1.000.000 đồng và dùng số tiền trên tiêu xài cá nhân hết. Đối với chị Ng, sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản đã đến Cơ quan Công an trình báo. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện KS mời Phol L làm việc, thì Phol L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Qua làm việc bị hại Nguyễn Thị Yến Ng trình bày, ngoài mất tài sản là chiếc laptop, hiệu Lenovo ra thì chị còn mất thêm số tiền 1.600.000 đồng nhưng bị cáo Phol L chỉ thừa nhận lấy trộm chiếc laptop và số tiền 327.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐG, ngày 04/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện KS, kết luận: Một laptop, hiệu LENOVO IDEAPAD C340 IWL i3 8145U/8GB/256GD/14 F/Touch/Won10, màu bạc, có giá 7.767.943 đồng.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ một xe mô tô, nhãn hiệu Exciter, màu đỏ - đen, biển số xe 83C1-649.22 và một giấy đăng ký xe số 000520 mang tên Huỳnh Văn H; còn đối với chiếc Laptop, Phol L đã bán cho một người đàn ông không rõ tên và địa chỉ nên không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Thị Yến Ng yêu cầu bị cáo trả lại chiếc laptop bị chiếm đoạt (trị giá 7.767.943 đồng) và bồi thường số tiền là 1.600.000 đồng.

Lần thứ ba: Vào ngày 21/02/2021, Phol L điều khiển xe mô tô hiệu Exciter, biển kiểm soát 83C1 - 649.22, màu đỏ đen, đi kiếm tài sản của người khác để trộm cắp. Khi đến nhà trọ khóm C, phường B, thành phố ST, thấy không có người trông coi nên Phol L chạy xe vào phòng số 20 của chị Võ Thị Lệ Tr1 và dùng một chìa khóa 19, một cây kìm cạy bung được ổ khóa cửa phòng. Sau khi vào phòng, Phol L lấy trộm được một cái laptop, hiệu Acer, Intel Core i5, màu đen và một cái loa kẹo kéo, màu đen, đem ra ngoài rồi điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường. Sau khi có được tài sản, Phol L mang đến số nhà khóm C, phường B, thành phố ST bán cho Huỳnh Long H cái laptop với giá 1.000.000 đồng; còn loa kẹo kéo Phol L bán cho người nam mua phế liệu không quen biết ở ngoài đường với giá 500.000 đồng và dùng số tiền trên tiêu xài cá nhân hết. Đối với chị Tr, sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản đã đến Cơ quan Công an trình báo. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố ST, Phol L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐG ngày 03/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Sóc Trăng, kết luận: Một máy laptop hiệu Acer Mw, Intel Core i5, màu đen, đã qua sử dụng, có giá 10.268.000 đồng và một loa kẹo kéo, màu đen, hiệu Forzen, đã qua sử dụng, có giá 3.750.000 đồng.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ một ổ khóa bằng kim loại bị rỉ sét; một cây chìa khóa 19 bằng kim loại, màu trắng, có chiều dài 53cm, trên thân có chứ YETI USA và một cây kìm bằng kim loại, bị rỉ sét, chiều dài 16cm, tay cầm có bao nhựa màu đỏ - đen, có in dòng chữ MEANFAST; đối với chiếc Laptop, Huỳnh Long H mua của Phol L để tại nhà trọ sử dụng nhưng quá trình khám xét không còn nữa, không rõ đang ở đâu nên không thu hồi được; còn cái loa kẹo kéo, Phol L đã bán cho một người đàn ông mua phế liệu không rõ tên và địa chỉ nên không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Võ Thị Lệ Tr1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 14.018.000 đồng.

Lần thứ tư: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 24/02/2021, Phol L điều khiển xe mô tô hiệu Exciter, biển kiểm soát 83C1 - 649.22, màu đỏ đen, đi trên đường tìm tài sản của người khác để lấy trộm. Khi đến trước nhà trọ NQ, khóm B, phường H, thành phố Sóc Trăng, Phol L điều khiển xe vào phòng số 01 của chị Phạm Thị T và dùng một thanh sắt cạy bung ổ khóa cửa, đột nhập vào phòng lấy trộm được số tiền 500.000 đồng và một cái tivi hiệu Samsung, màn hình cong, màu đen, loại 55 inch. Sau khi lấy trộm được tài sản, Phol L đem bán tivi cho Huỳnh Long H được số tiền 5.500.000 đồng nhưng H mới đưa cho Phol L được số tiền 2.600.000 đồng, có được số tiền trên Phol L tiêu xài cá nhân hết. Đối với chị T, sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản đã đến Cơ quan Công an trình báo. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng, Phol L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Qua làm việc bị hại Phạm Thị T trình bày, ngoài mất tài sản là cái tivi hiệu Samsung ra thì chị còn mất thêm số tiền 5.000.000 đồng nhưng bị cáo Phol L chỉ thừa nhận lấy trộm chiếc tivi và số tiền 500.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐG, ngày 04/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Sóc Trăng, kết luận: Một cái tivi hiệu Samsung, loại màn hình cong, màu đen, kích thước 55 inch, đã qua sử dụng, trị giá 13.300.000 đồng.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được chiếc tivi Samsung, do quá trình khám xét tại nhà trọ của Huỳnh Long H không còn nữa, không rõ đang ở đâu.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Phạm Thị T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 18.300.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Lý Phol L chiếm đoạt của các bị hại là 36.112.943 đồng.

Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKS-TPST ngày 12/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Lý Phol L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Lý Phol L và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Lý Phol L phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên; bị cáo không có tiền án nhưng có 01 tiền sự; bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc Khmer được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo: một xe mô tô, nhãn hiệu Exciter, màu đỏ - đen, biển số 83C1-649.22 cùng giấy đăng ký xe có số 000520 mang tên Huỳnh Văn H.

Tịch thu tiêu hủy: Một ổ khóa bằng kim loại bị rỉ sét; một cây chìa khóa 19 bằng kim loại, màu trắng, có chiều dài 53cm, trên thân có chữ YETI USA; một cây kìm bằng kim loại, bị rỉ sét, chiều dài 16cm, tay cầm có bao nhựa màu đỏ - đen, có in dòng chữ MEANFAST.

Về trách nhiệm dân sự: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585,586,589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Phạm Thị Huyền Tr số tiền 200.000 đồng; bị hại Nguyễn Thị Yến Ng số tiền 8.094.943 đồng; bị hại Võ Thị Lệ Tr1 số tiền 14.018.000 đồng, bị hại Phạm Thị T số tiền 13.800.000 đồng.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận bào chữa, đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại Phạm Thị Huyền Tr, bị hại Võ Thị Lệ Tr1; còn đối với yêu cầu bồi thường của bị hại Nguyễn Thị Yến Ng yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 9.367.943 đồng bị cáo chỉ đồng ý bồi thường 8.094.943 đồng, bị hại Phạm Thị T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 18.800.000 đồng bị cáo chỉ đồng ý bồi thường số tiền 13.800.000 đồng và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại Võ Thị Lệ Tr1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 14.018.000 đồng và đề nghị xử nghiêm bị cáo theo quy định pháp luật.

- Bị hại Phạm Thị T cho rằng ngoài mất 01 ti vi hiệu Samsung, số tiền 500.000 đồng như bị cáo khai nhận thì bà còn mất số tiền 5.000.000 đồng nên bà yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại là 18.800.000 đồng và đề nghị xử nghiêm bị cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, các bị hại Phạm Thị Huyền Tr, Nguyễn Thị Yến Ng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt các bà nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Lý Phol L thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng với hành vi của bị cáo gây ra, cụ thể: vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng nên đã 04 lần thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác:

Lần thứ nhất: Vào 07/02/2021, bị cáo lấy trộm của chị Phạm Thị Huyền Tr, tại phòng số 09, Nhà trọ A, khóm S, phường S, thành phố ST số tiền 200.000 đồng.

Lần thứ hai: Vào ngày 11/02/2021, bị cáo lấy trộm của chị Nguyễn Thị Yến Ng, tại phòng số 06, Nhà trọ HY, thị trấn KS, huyện KS, tỉnh Sóc Trăng một cái laptop trị giá 7.767.943 đồng và số tiền 327.000 đồng.

Lần thứ ba: Vào ngày 21/02/2021, bị cáo lấy trộm của chị Võ Thị Lệ Tr1, tại phòng số 20, Nhà trọ B, khóm C, phường B, thành phố ST một máy laptop hiệu Acer trị giá 10.268.000 đồng và một loa kẹo kéo trị giá 3.750.000 đồng.

Lần thứ tư: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 24/02/2021, bị cáo lấy trộm của bà Phạm Thị T, tại phòng số 01, Nhà trọ C, khóm B, phường H, thành phố ST một cái tivi hiệu Samsung trị giá 13.300.000 đồng và số tiền 500.000 đồng.

Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp một mình, khi đi không có chuẩn bị công cụ gì, các công cụ như một thanh sắt và một chìa khóa 19 là bị cáo lượm được gần nơi bị cáo trộm. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đỏ - đen, biển số 83C1-649.22 của bị cáo mua của người khác nhưng là tiền của em bị cáo cho mượn để mua nên bị cáo muốn xin nhận lại. Bị cáo đã nhận được các kết luận định giá tài sản bị cáo không có ý kiến, bị cáo đã biết sai và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Lời thừa nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại và phù hợp với các chứng cứ và tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Xét thấy, bị cáo là người trưởng thành, thể hiện là người bình thường không bị mắc bệnh lý về tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi nên đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vào các ngày 07/02/2021, ngày 11/02/2021, ngày 21/02/2021 và ngày 24/02/2021 bị cáo đã lén lút lấy trộm các tài sản của người khác với tổng giá trị là 36.112.943 đồng, hành vi này của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, là hành vi được pháp luật hình sự quy định là tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về Tội Trộm cắp tài sản.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 04 lần hành vi phạm tội, trong đó có 03 lần trộm cắp tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên nên áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 01 tiền sự, vào ngày 28/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện LP, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong vào tháng 9/2020 nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc Khmer nên được xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và nhân thân bị cáo, nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 03 năm tù là phù hợp.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra thu giữ: Một ổ khóa bằng kim loại bị rỉ sét; một cây chìa khóa 19 bằng kim loại, màu trắng, có chiều dài 53cm, trên thân có chữ YETI USA; một cây kìm bằng kim loại, bị rỉ sét, chiều dài 16cm, tay cầm có bao nhựa màu đỏ - đen, có in dòng chữ MEANFAST đây là các công cụ phạm tội và giá trị không lớn nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với một xe mô tô, nhãn hiệu Exciter, màu đỏ - đen, biển số 83C1-649.22 cùng giấy đăng ký xe có số 000520 mang tên Huỳnh Văn H là tài sản của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Exciter, màu đỏ - đen, biển số 83C1-649.22 cùng giấy đăng ký xe có số 000520 mang tên Huỳnh Văn H cho bị cáo là không có căn cứ vì bị cáo sử dụng chiếc xe này để làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

- Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại Phạm Thị Huyền Tr, bị hại Võ Thị Lệ Tr1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị Phạm Thị Huyền Tr số tiền 200.000 đồng; bồi thường cho chị Võ Thị Lệ Tr1 số tiền 14.018.000 đồng.

- Đối với yêu cầu bồi thường của chị Nguyễn Thị Yến Ng yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị một laptop mà bị cáo chiếm đoạt là 7.767.943 đồng và số tiền 1.600.000 đồng, tổng cộng là 9.367.943 đồng. Bà Phạm Thị T yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị một Tivi Samsung mà bị cáo chiếm đoạt là 13.300.000 đồng và số tiền 5.500.000 đồng, tổng cộng là 18.800.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận có chiếm đoạt của chị Ngọc 01 laptop và số tiền 327.000 đồng và chiếm đoạt của bà T 01 Tivi hiệu Samsung và số tiền 500.000 đồng và đồng ý bồi thường lại giá trị tài sản cũng như số tiền chiếm đoạt nêu trên, đồng thời, qua kết quả điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng không thu thập được chứng cứ chứng minh bị cáo chiếm đoạt thêm số tiền 5.000.000 đồng của bà T và số tiền 1.273.000 đồng của chị Ng. Từ đó, cơ quan tiến hành tố không khởi tố, truy tố nên Hội đồng xét xử không có cơ sở buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại theo yêu cầu chị Ng và bà T mà chỉ chấp nhận một phần. Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường giá trị tài sản chiếm đoạt là 8.094.943 đồng cho chị Ng, bồi thường số tiền 13.800.000 đồng cho bà T là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá gạch trên số tiền bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với ông Huỳnh Long H khi mua tài sản không biết là do bị cáo phạm tội mà có nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông H là đúng quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm luận tội và đề nghị mức hình phạt, áp dụng các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, về đề nghị trả lại cho bị cáo một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đỏ - đen, biển số 83C1-649.22 cùng giấy đăng ký xe có số 000520 mang tên Huỳnh Văn H không được Hội đồng xét xử chấp nhận như nhận định nêu tại mục [8] trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 584, 585,586,589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Lý Phol L, phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Xử phạt bị cáo Lý Phol L 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2021.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: một xe mô tô, nhãn hiệu Exciter, màu đỏ - đen, biển số 83C1-649.22 cùng giấy đăng ký xe có số 000520 mang tên Huỳnh Văn Hoàng.

- Tịch thu tiêu hủy: Một ổ khóa bằng kim loại bị rỉ sét; một cây chìa khóa 19 bằng kim loại, màu trắng, có chiều dài 53cm, trên thân có chữ YETI USA; một cây kìm bằng kim loại, bị rỉ sét, chiều dài 16cm, tay cầm có bao nhựa màu đỏ - đen, có in dòng chữ MEANFAST.

(Vật chứng nêu trên đang được quản lý tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/7/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng).

4. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

- Buộc bị cáo Lý Phol L bồi thường cho chị Phạm Thị Huyền Tr số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng;

- Buộc bị cáo Lý Phol L bồi thường cho chị Nguyễn Thị Yến Ng số tiền 8.094.943 (tám triệu, không trăm chín mươi bốn ngàn, chín trăm bốn mươi ba) đồng;

- Buộc bị cáo Lý Phol L bồi thường cho chị Võ Thị Lệ Tr1 số tiền 14.018.000 (mười bốn triệu, không trăm mười tám ngàn) đồng.

- Buộc bị cáo Lý Phol L bồi thường cho bà Phạm Thị T số tiền 13.800.000 (mười ba triệu, tám trăm ngàn) đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người bị thi hành án còn phải trả lãi cho người có quyền thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Lý Phol L phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.806.000 (một triệu tám trăm lẻ sáu ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Báo cho bị cáo, các bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với những người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ