vanban.org

Bản án 76/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Muhamah B phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Muhamah B 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Muhamah B - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Muhamah B phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2021/HS-ST
Ngày: 21/10/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Lê Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hòa Bình;

2. Bà Tống Thị Kim Điền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang – Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2021/HSST ngày 14 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Muhamah B, sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 290D/14/13R đường A, phường B, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 450C/6 đường C, Phường D, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Chăm; tôn giáo: hồi giáo; con ông: Lê Ngọc H, và bà Sitifati M; có vợ (chưa đăng ký kết hôn) và 01 con (sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 93/2015/HSST ngày 27/7/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2016.

Bị bắt tạm giam ngày 24/8/2020 – Có mặt.

Người bị hại: Bà Mai A, sinh ngày: 15/5/2003;

1

Địa chỉ: 41/9 khu phố E, phường F, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Sitifati M, sinh năm 1977; địa chỉ: 450C/6 đường C, Phường D, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 24/8/2020, Muhamah A điều khiển xe máy hiệu Honda Winner biển số 59L2- 465.43 đi từ đường Nguyễn Thị Thập qua đường Lâm Văn Bền, đi vào đường số 10, phường Tân Kiểng, Quận 7 để về nhà ở Quận 8. Khi Muhamah B đến gần trường Lương Thế Vinh, 12 đường số 10, phường Tân Kiểng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thì nhìn thấy bà Mai A (sinh ngày 15/5/2003) đang điều khiển xe máy chạy cùng chiều phía trước, trong hộc xe phía trước có để 01 điện thoại hiệu Iphone 7 màu đen nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Muhamah B chạy theo sau bà Mai A, quan sát tìm thời điểm thuận lợi để giật điện thoại. Khi đến trước địa chỉ 50 – 52 đường số 10, phường Tân Kiểng, Quận Muhamah B áp sát bên trái xe bà Mai A, dùng tay phải giật điện thoại, rồi tăng ga tẩu thoát về hướng đường Trần Xuân Soạn. Bà Mai A đuổi theo đến ngã ba đường Bế Văn Cấm – Trần Xuân Soạn thì đuổi kịp và tông vào xe Muhamah B làm cả hai ngã xuống đường, bà Mai A tri hô. Vì sợ bị phát hiện và để chối tội nên Muhamah B lấy trong túi quần ra chiếc điện thoại hiệu Iphone 7 đã cướp giật được, lén lút bỏ lên yên xe của bà Mai A. Tuy nhiên, khi Muhamah B lén lút lấy điện thoại Iphone 7 từ trong túi quần ra bỏ lên yên xe của bà Mai A thì bị ông Đào Văn T và Nguyễn Thành P nhìn thấy. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Muhamah B khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Theo kết luận định giá tài sản số 450/KL-HĐĐGTTHS ngày 08/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 7, kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, bị bể màn hình, đã qua sử dụng, có trị giá là: 1.500.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại hiệu Iphone 7 màu đen, là tài sản của bà Mai A bị Muhamah B cướp giật. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã trả lại điện thoại cho bà Mai A.

2

- 01 xe máy hiệu Honda Winner màu đỏ đen, biển số 59L2-465.43, số khung RLHKC2603GY220568, số máy KC26E1053047, Muhamah B sử dụng phương tiện để cướp giật tài sản. Xe trên do Muhamah B đứng tên chủ sở hữu.

Bản Cáo trạng số: 36/CT-VKSQ7 ngày 14/4/2021 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Muhamah B về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là bà Mai A đã nhận lại tài sản, yêu cầu được bồi thường 4.000.000 đồng. Bà Sitifati M là mẹ của bị cáo Muhamah B đã bồi thường cho bà Mai A số tiền 4.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận hành vi cướp giật tài sản sản phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

3

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 24/8/2020, Muhamah B điều khiển xe máy hiệu Honda Winner biển số 59L2- 465.43 đến gần trường Lương Thế Vinh, 12 đường số 10, phường Tân Kiểng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thì nhìn thấy bà Mai A đang điều khiển xe máy chạy cùng chiều phía trước, trong hộc xe phía trước có để 01 điện thoại hiệu Iphone 7 màu đen nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Khi đến trước địa chỉ 50 – 52 đường số 10, phường Tân Kiểng, Quận 7. Muhamad B áp sát bên trái xe bà Mai A, dùng tay phải giật điện thoại, rồi tăng ga tẩu thoát về hướng đường Trần Xuân Soạn. Bà Mai A đuổi theo đến ngã ba đường Bế Văn Cấm – Trần Xuân Soạn thì đuổi kịp và tông vào xe Muhamah B làm cả hai ngã xuống đường. Người bị hai tri hô, sợ bị phát hiện và để chối tội nên Muhamah B lấy trong túi quần ra chiếc điện thoại hiệu Iphone 7 đã cướp giật được, lén lút bỏ lên yên xe của bà Mai A. Tuy nhiên, khi Muhamah B lén lút lấy điện thoại Iphone 7 từ trong túi quần ra bỏ lên yên xe của bà Mai A thì bị người dân bắt quả tang.

Theo Kết luận định giá tài sản số: 450/KL-HĐĐGTTHS ngày 08/12/2020 của Hội đồng Định giá tài sản tố tụng hình sự Quận 7, kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, bị bể màn hình, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.500.000 đồng.”. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, táo bạo và liều lĩnh. Bị cáo phạm tội là do tham lam tư lợi để có tiền tiêu xài. Hành vi này là rất nghiêm trọng, nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân, gây hoang mang về mặt tinh thần cho người bị hại, gây mất trật tự trị an, an toàn giao thông đường bộ. Hành vi vừa điều khiển xe máy vừa cướp giật tài sản của người khác, sau đó nhanh chóng tẩu thoát khỏi sự truy đuổi là thủ đoạn phạm tội nguy hiểm có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bằng biện pháp hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo phạm tội cướp giật tài sản bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 03 năm tù theo bản án số 93/2015/HSST ngày 27/7/2015, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 01/12/2016. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại vì tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bà Sitifati M là mẹ của bị cáo đã bồi thường số tiền 4.000.000 đồng cho người bị hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng

4

Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, bà Sitifati M là mẹ của bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 4.000.000 đồng cho người bị hại, bà Mai A không có yêu cầu gì thêm trong vụ án, tại phiên tòa vắng mặt nên không xét.

Bà Sitifati M là mẹ của bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 4.000.000 đồng cho người bị hại. Bà Sitifati M không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 4.000.000 đồng. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 chiếc điện thoại Iphone 07 màu đen là tài sản của bà Mai A Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã trả lại cho bà Mai A là có căn cứ.

- 01 xe gắn máy hiệu: Honda, số loại: Winner, màu sơn: Đen đỏ, biển số 59L2-465.43, số khung: RLHKC2603GY220568, số máy: KC26E1053047, qua xác minh xe trên do bị cáo đứng tên chủ sở hữu. Bị cáo sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Muhamah B phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Căn cứ vào điểm d Khoản 2 Điều 171; Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Muhamah B 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2020.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe gắn máy hiệu: Honda, số loại: Winner, màu sơn: Đen đỏ, biển số 59L2-465.43, số khung: RLHKC2603GY220568, số máy: KC26E1053047 (xe cũ, không kiểm tra chi tiết máy bên trong).

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 71 ngày 08/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7).

5

3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ