- Tranh chấp gì? án hình sự — "NVC - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo NVC phải nộp 200.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ | CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2021/HS-ST Ngày 28 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Minh Phương - Phó Bí thư Đoàn phường Phan Bội Châu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Bà Vương Lệ Thuỷ - Giáo viên.
- Thư ký phiên toà: Bà NLC3 - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2021/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
NVC, sinh ngày 13 tháng 11 năm 2004 tại Hải Phòng (khi phạm tội 16 tuổi 05 tháng 19 ngày). Nơi ĐKNKTT: Tổ 27, phường A, quận B, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Khu nhà trọ C, phường D, quận E, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông F và bà G; chưa có vợ con; nhân thân: Bản án số 60/2021/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2021 Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 03 tháng 6 năm 2021; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà G, sinh năm 1978 (mẹ đẻ) và ông F, sinh năm 1975 (bố đẻ). Nơi ĐKNKTT: Tổ 27, phường A, quận B, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Khu nhà trọ C, phường D, quận E, thành phố Hải Phòng; đều có mặt.
- Bị hại: Anh BH, sinh năm 1996; nơi ở: Phòng trọ số 02, khu nhà trọ C, phường D, quận E, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh NLC1, anh NLC2 và bà NLC3; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 02/5/2021, anh BH và anh NLC1 đi làm, đến 09 giờ cùng ngày, cả hai về phòng trọ số 2 khu C, phường D, quận E, thành phố Hải Phòng phát hiện NVC đang lắp ốc vít bản lề khóa ngoài cửa phòng trọ của mình bằng máy khoan điện cầm tay. Do nghi ngờ NVC trộm cắp tài sản nên anh BH hỏi và NVC thừa nhận đã lấy 600.000 đồng của anh BH, cất giấu trong túi quần bên phải NVC đang mặc và 02 lần trước đó đã trộm cắp tiền của anh BH. Vì vậy, anh BH đưa NVC đến Công an phường Hùng Vương trình báo.
Tại Cơ quan điều tra NVC khai nhận: NVC và gia đình thuê phòng trọ số 1 đối diện phòng trọ của anh BH. Khoảng 08 giờ ngày 02/5/2021, khi ngủ dậy thấy dãy trọ không có ai, NVC nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. NVC lấy 01 máy khoan điện cầm tay màu đen đỏ, lắp thêm 01 đầu chụp ốc vít 05 cạnh và sang phòng trọ của anh BH tháo bản lề cửa. Sau đó, NVC sử dụng tuốc nơ vít 04 cạnh tháo rời bản lề khóa cửa. Khi đã tháo rời toàn bộ khóa bên ngoài phòng trọ, NVC dùng cờ lê màu trắng dài 20cm và 01 thanh sắt 15cm x 1,5cm đục, phá ổ khóa cửa phía bên trong để vào phòng trọ của anh BH. Sau khi mở được cửa, NVC vào phòng tìm tài sản, phát hiện và lấy 600.000 đồng trong túi áo khoác màu xanh treo trên dây của anh BH, NVC cất vào túi quần bên phải đang mặc. Sau đó, NVC sử dụng máy khoan điện lắp lại các ốc vít, gắn bản lề ổ khóa ngoài như ban đầu. Trong lúc NVC đang lắp ổ khóa thì bị anh BH, anh NLC1 phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong người NVC 600.000 đồng cùng 01 máy khoan điện cầm tay, 01 đầu chụp ốc vít 05 cạnh, 01 đầu tuốc nơ vít 04 cạnh, 01 cờ lê, 01 thanh sắt.
Ngoài ra, NVC khai nhận: Với cách thức trên, ngày 22/4/2021 NVC vào phòng anh BH lấy 500.000 đồng, ngày 25/4/2021 lấy 2.000.000 đồng để trong ba lô trong va li trên giường. Toàn bộ số tiền 2.500.000 đồng, NVC sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Vật chứng thu giữ: Số tiền 600.000 đồng, 01 máy khoan điện cầm tay, 01 đầu chụp ốc vít 05 cạnh, 01 đầu tuốc nơ vít 04 cạnh, 01 cờ lê, 01 thanh sắt.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã trả lại anh BH số tiền 600.000 đồng, anh BH không yêu cầu bị cáo phải trả 2.500.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 09/11/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố NVC về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo NVC khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố.
Bị hại BH đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Nhưng đã có lời khai trong hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại 600.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Gia đình không biết việc NVC đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật như bản cáo trạng và lời khai của NVC tại phiên toà. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất theo quy định của pháp luật, bởi lẽ khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế, đặc biệt là thiếu sự giám sát quản lý của gia đình.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 104 của Bộ luật Hình sự, xử phạt NVC với mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp hình phạt của bản án số 60/2021/HS-ST ngày 19/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với NVC; bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa phát biểu ý kiến: Nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên toà đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về độ tuổi, hoàn cảnh gia đình để cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên.
Bị cáo và người đại diện hợp pháp nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không tranh luận gì khác và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, khẳng định: Vào các ngày 22/4/2021, 25/4/2021 và 02/5/2021, tại phòng trọ số 02 khu C, phường D, quận E, thành phố Hải Phòng, NVC đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là số tiền 3.100.000 đồng của bị hại BH. Hành vi của NVC đủ cơ sở kết luận cấu thành phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và hình phạt:
Bị cáo NVC không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 05 tháng 19 ngày, nên cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 98, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo đang chấp hành hình phạt 42 tháng tù của Bản án số 60/2021/HS-ST ngày 19/8/2021 Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, Hội đồng xét xử cần tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 56, Điều 104 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác:
Bị hại BH đã nhận lại số tiền 600.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với 01 máy khoan điện cầm tay chạy bằng pin màu đen đỏ, 01 đầu chụp ốc vít 05 cạnh, 01 đầu tuốc nơ vít 04 cạnh, 01 cờ lê màu trắng dài 20cm và 01 thanh sắt dài 15cm, rộng 1,5cm là của ông F (bố đẻ NVC). Khi NVC sử dụng các đồ vật trên để thực hiện hành vi phạm tội, ông F không biết, Công an quận Hồng Bàng đã trả lại cho ông F, nên Hội đồng xét xử không xét.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo NVC phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 104 Bộ luật Hình sự, xử phạt: NVC 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 60/2021/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, bị cáo NVC phải chấp hành hình phạt chung là 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03 tháng 6 năm 2021. Khi chấp hành án, trừ cho bị cáo 09 ngày do bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23 tháng 02 năm 2021 đến ngày 04 tháng 3 năm 2021.
- Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo NVC phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị cáo; - Người bào chữa; - VKSND quận Hồng Bàng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan Điều tra Công an quận Hồng Bàng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng; - Công an thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải Yến |