vanban.org

Bản án 76/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đình D 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 01/8/2021. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,114g loại Heroine là ma túy còn lại sau giám định. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 09/BBGN ngày 11/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng H…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN HOẰNG HÓA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2021/HS-ST
Ngày 29/11/2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vương Thị Liên.

Ông Hoàng Ngọc Năm.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Lê Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 đối với:

Bị cáo Lê Đình D; sinh ngày 18/02/1977 tại Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số nhà ..., ngõ ..., đường ..., thôn M, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình M và bà Lê Thị K; vợ: Phạm Thị K và có 01 con; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt và tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2021. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h20‟ ngày 01/8/2021, Lê Đình D điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda RSX, biển kiểm soát 36B4-329… từ nhà đi đến khu đất trống gần cây xăng M thuộc thôn M, xã Đ với mục đích tìm nơi để sử dụng ma túy; đến 09h30‟ cùng ngày, Công an huyện Hoằng Hóa phối hợp với Công an xã Đ phát hiện, bắt quả tang Lê Đình D đang cầm trên tay trái 02 gói giấy có hình vẽ nhiều màu sắc, kích thước 3,5x3,5cm, bên trong mỗi gói đều chứa các cục bột màu trắng; D khai nhận đó là các gói chứa ma túy mà D đã mua trước đây với mục đích để sử dụng. Công an huyện Hoằng Hóa đã thu giữ tiến hành niêm phong 02 gói giấy chứa ma túy và trưng cầu giám định; thu giữ 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Đình D, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K màu đỏ, 01 xe môtô nhãn hiệu Honda RSX, biển kiểm soát 36B4-329…

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã tiến hành thử test chất gây nghiện trong nước tiểu của Lê Đình D, kết quả: Dương tính với MOP.

Kết luận giám định số 2465/PC09 ngày 04/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Các cục bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,125g loại Heroine.

Quá trình điều tra, Lê Đình D khai đã mua ma túy của một đối tượng tên Đ, người cùng thôn vào lúc khoảng 17h ngày 31/7/2021 tại đường bờ mương gần khu vực đền C thuộc thôn M, xã Đ với số tiền 200.000 đồng; sau khi mua được ma túy, D mang về nhà và mở 01 gói ra để sử dụng một phần nhỏ, sau đó gói lại và cất trong túi quần.

Vật chứng: 01 xe môtô biển kiểm soát 36B4-329…, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Lê Thị H và không liên quan đến vụ án cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã trả cho chị H; 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Đình D, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K màu đỏ không liên quan đến vụ án, theo ủy quyền của Lê Đình D cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã trả lại cho anh Lê Đình B là em trai Lê Đình D. Số ma túy còn lại sau khi giám định đã được niêm phong, cơ quan điều tra đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 79/CT-VKSHH ngày 10 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Đình D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Ngày 31/7/2021 Lê Đình D có mua 200.000 đồng ma túy của một người tên Đ mang về nhà sử dụng một phần nhỏ, số còn lại cất trong túi quần; đến khoảng 09h30‟ ngày 01/8/2021, khi đang tìm nơi để sử dụng ma túy ở khu đất trống gần cây xăng M thuộc thôn M, xã Đ thì bị Công an huyện Hoằng Hóa phối hợp với Công an xã Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng vụ án.

Do đó giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên; trước khi mở phiên tòa bà Lê Thị K (mẹ bị cáo) giao nộp các tài liệu thể hiện việc ông Lê Đình M (bố bị cáo) và bà Lê Thị K là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huân chương và là thương, bệnh binh. Sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Đình D từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù; vật chứng tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo bố mẹ già, là lao động chính trong gia đình cho được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để được sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Ngày 31/7/2021 Lê Đình D có mua 200.000 đồng ma túy tại đường bờ mương gần khu vực đền C thuộc thôn M, xã Đ của một người tên Đ mang về nhà sử dụng một phần nhỏ, số còn lại cất trong túi quần; đến khoảng 09h30‟ ngày 01/8/2021, khi đang tìm nơi để sử dụng ma túy ở khu đất trống gần cây xăng M thuộc thôn M, xã Đ, huyện H thì bị Công an huyện Hoằng Hóa phối hợp với Công an xã Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng vụ án.

Kết luận giám định số 2465/PC09 ngày 04/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Các cục bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,125g loại Heroine.

Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Đình D đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo Lê Đình D đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến xã hội, do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bố bị cáo ông Lê Đình M là bệnh binh, được tặng „Huân chương chiến sỹ vẻ vang” hạng ba và “Huân chương chiến sỹ giải phóng” hạng nhất, mẹ bị cáo là bà Lê Thị K được tặng “Huân chương kháng chiến” hạng ba. Do đó áp dụng quy định của điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[5] Trong vụ án này theo lời khai của bị cáo có mua ma túy của một người tên Đ, quá trình điều tra không xác định được đối tượng tên Đ nên chưa có căn cứ để xử lý trong vụ án này; tiếp tục điều tra xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ được xử lý bằng vụ án khác.

[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

[7] Vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định 0,114g loại Heroine là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy; 01 xe môtô nhãn hiệu Honda RSX biển kiểm soát 36B4-329…; 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Đình D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K màu đỏ không liên quan đến vụ án cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa đã xử lý theo quy định của pháp luật.

[8] Án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đình D 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 01/8/2021.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,114g loại Heroine là ma túy còn lại sau giám định. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 09/BBGN ngày 11/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa).

Án phí: Buộc bị cáo Lê Đình D chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ