- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Bé. - phạm tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người (điều 240 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo ngày 08/9/2020 của bị cáo Nguyễn Thị B yêu cầu xin giảm nhẹ mức hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2021/HS-PT Ngày 22 – 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Đình Tiến.
Ông Hồ Hữu Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2021/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Thị B, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 16/2021/HS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. (Sau đây gọi tắt là bản án sơ thẩm).
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị B, sinh năm 1987, tại: chưa xác định được; nơi đăng ký thường trú: không; chỗ ở tại thời điểm phạm tội: ấp Long H, xã Long P, thị xã Long M, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: chưa xác định được và bà: chưa xác định được; chồng: đang chung sống không đăng ký kết hôn với ông Lê Văn C; con: bị cáo chưa có con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ; tạm giam: không; bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo hoặc có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn thị xã Long M, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Long Mỹ phát hiện bị cáo Nguyễn Thị B có lịch trình di chuyển từ chợ đầu mối Bình Điền, Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh về ấp Long H, xã Long P, thị xã Long M, tỉnh Hậu Giang nhưng khai báo y tế không đầy đủ, không trung thực và không thực hiện nghiêm “5K” (Khẩu trang; Khử khuẩn; Giữ khoảng cách; Không tụ tập; Khai báo y tế) của Bộ Y tế làm lây lan dịch bệnh cho người khác nên ngày 13/7/2021, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Long M Kiến nghị khởi tố số 01/KN-BCĐ gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Long M, tỉnh Hậu Giang.
Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Thị B sinh sống nhiều nơi, không biết chữ, không giấy tờ tùy thân, không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và tạm trú, đang sống chung nhưng không đăng ký kết hôn với ông Lê Văn C tại ấp Long H, xã Long P, thị xã Long M, tỉnh Hậu Giang. B thuê phòng số 2 tại nhà trọ Minh Hiếu thuộc ấp Cầu Tràm, xã Long Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An và hàng ngày đi làm thuê (phụ bán rau) tại chợ đầu mối Bình Điền thuộc Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Do đang mang thai và thấy tại chợ đầu mối Bình Điền có nhiều người bị mắc Covid-19, Nguyễn Thị B sợ bị nhiễm bệnh và ảnh hưởng đến thai nhi nên khoảng 8 giờ ngày 05/7/2021, B di chuyển từ chợ đầu mối Bình Điền về thị xã Long M, tỉnh Hậu Giang. Khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, Bé về đến đoạn đường gần Trung tâm Y tế thị xã Long Mỹ thì được ông Coi đón về nhà sinh sống. Khi về đến địa phương, Nguyễn Thị B nhận thức được việc về từ chợ đầu mối Bình Điền là nơi đã có nhiều người bị nhiễm Covid-19 nhưng không đến ngay Trạm Y tế khai báo y tế mà về nhà của ông Coi tiếp xúc với các thành viên trong gia đình. Đến 17 giờ 40 phút ngày 05/7/2021, Bé mới đến Trạm Y tế xã Long P, thị xã Long M khai báo y tế nhưng khai địa điểm khởi hành từ ấp Cầu Tràm, xã Long Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, không khai báo lịch trình di chuyển đến từ chợ đầu mối Bình Điền về ấp Long H, xã Long P, thị xã Long M, tỉnh Hậu Giang và khai không đúng thông tin cá nhân, năm sinh. Ngày 06/7/2021 cán bộ ấp Long H, xã Long P đến nhà và yêu cầu B đến Trạm Y tế xã khai báo y tế lại. Sau khi khai báo y tế, bé B đã được ông Võ Văn Th là cán bộ y tế thuộc Trạm Y tế xã Long P yêu cầu Bé phải cách ly tại nhà, thực hiện nghiêm “5K” của Bộ Y tế nhưng B không chấp hành, B di chuyển nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều người trên địa bàn xã Long P và phường Bình Th, thị xã Long M. Lịch trình di chuyển và tiếp xúc cụ thể của Nguyễn Thị B như sau:
Khoảng 8 giờ ngày 05/7/2021 đến cầu vượt Nguyễn Văn Linh, thuộc địa phận thành phố Hồ Chí Minh thuê xe ôm của người không quen biết và đi theo hướng Quốc lộ 1A, qua các tỉnh Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ đến thị trấn Cái Tắc, Kinh Cùng. Khoảng 12 giờ 40 phút, thì đến thị xã Long M, địa điểm xuống xe tại lề đường cặp bên Trung tâm Y tế thị xã Long M thì được ông Lê Văn C đón về nhà tại ấp Long H, xã Long P, thị xã Long M, tỉnh Hậu Giang.
Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 05/7/2021 B về tới nhà, B có tiếp xúc gần với các thành viên trong gia đình gồm: Lê Văn C, Lê Văn H (cha của ông C), Lê Thị Ng (chị của ông C), Lê Văn D (con riêng của ông C).
Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 05/7/2021 ông C chở B lên Trạm Y tế xã Long P khai báo y tế, khai báo xong trên đường về ghé chợ Long P có tiếp xúc gần với bà Nguyễn Thị O và bà Lâm Thị H. Khoảng 8 giờ ngày 06/7/2021 B có tiếp xúc gần bà Nguyễn Thị T. Khoảng 09 giờ ngày 06/7/2021 ông C chở B đi chợ Xí nghiệp Gạch mua thịt heo, có tiếp xúc gần với bà Phan Thị Thùy L. Khoảng 11 giờ ngày 06/7/2021 khi ở tại nhà, B có tiếp xúc với Nguyễn Ngọc S; Nguyễn Thị T và Lê Minh Kh. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 06/7/2021 B có tiếp xúc gần với bà Lâm Thị Bích T, đi khám thai tại phòng khám Lâm Thảo thuộc khu vực Bình Thạnh B, phường Bình Thạnh, thị xã Long M, tỉnh Hậu Giang, sau đó đi về nhà.
Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 09/7/2021 Trạm Y tế xã Long P tiến hành test nhanh tìm kháng nguyên đối với Nguyễn Thị B, kết quả dương tính với vi rút SARS-CoV2. Sau đó Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hậu Giang gửi mẫu về Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh để làm xét nghiệm RT-PCR khẳng định lại kết quả dương tính với vi rút SARS-CoV2 vào ngày 10/7/2021, được Bộ Y tế công bố ca mắc mới vào ngày 11/7/2021, với mã số bệnh nhân BN27883.
Quá trình điều tra xác định có 14 trường hợp có kết quả dương tính với SARS-CoV2, gồm: Lê Văn H, Lê Văn D, Nguyễn Thị O, Lâm Thị H, Phan Thị Thùy L, Nguyễn Thị S, Lê Minh Kh, Lê Văn C, Lê Thị Ng, Nguyễn Văn L, Võ Thành R, Dương Thị Kim Th, Nguyễn Thị T, Trần Thị Ng và nhiều trường hợp khác đang được cách ly theo dõi y tế theo quy định, gồm 156 trường hợp F1 của các ca lây nhiễm từ Nguyễn Thị B phải đi cách ly theo dõi y tế.
Xuất phát từ diễn biến lây lan phức tạp của dịch Covid-19, ngày 09/7/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ban hành Quyết định số 314/Qđ-BCĐ về việc Thiết lập 02 vùng cách ly y tế để phòng, chống dịch trên địa bàn xã Long Phú, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang gồm: Vùng cách ly y tế đối với 60 hộ dân, có 250 khẩu trên đoạn đường từ nhà bà Tư Bảnh đến cầu Tám Nguyện thuộc ấp Long Hòa 1, xã Long Phú và vùng cách ly y tế toàn bộ khu vực chợ Tân Bình 1, xã Long Phú, gồm 10 sạp kinh doanh, 16 khẩu; Tạm dừng hoạt động kinh doanh mua bán tại chợ Tân Bình 1 và chợ Long Phú. Ngày 10/7/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ban hành quyết định số 23/QĐ-BCĐ Thiết lập vùng cách ly y tế để phòng, chống dịch tại khu vực Bình Thạnh B, phường Bình Thạnh, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Ngày 13/7/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang ban hành Công văn số 956/UBND-NCTH về việc áp dụng Chỉ thị số 16/CT-TTG ngày 31/3/2020 của Thủ tướng đối với toàn địa bàn xã Long P, thị xã Long M, tỉnh Hậu Giang kể từ 12 giờ 00 phút ngày 13/7/2021.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2021/HS-ST, ngày 31 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 240; điểm n, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị B phạm tội Làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bé 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng; trách nhiệm dân sự; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08 tháng 9 năm 2021, bị cáo Nguyễn Thị B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Lý do: bản thân không biết chữ, nên ít hiểu biết, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện đang mang thai ...
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị B vắng mặt nên không phát biểu yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà phát biểu quan điểm: bản án sơ thẩm xử bị cáo Nguyễn Thị B về tội Làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người là có căn cứ. Tuy nhiên, mức hình phạt áp dụng cho bị cáo là tương đối nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm cho bị cáo từ 24 tháng xuống còn 18 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về xét xử vắng mặt: Bị cáo Nguyễn Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng tại phiên toà vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án xét xử vắng mặt.
. Sau khi bị xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị B có làm đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét đơn theo thủ tục phúc thẩm.
. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị B vắng mặt nên không phát biểu yêu cầu. Tại phiên tòa sơ thẩm, hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Đơn kháng cáo của bị cáo cũng thể hiện bị cáo không kêu oan, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Đối chiếu lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: trong thời gian mua bán tại chợ đầu mối Bình Điền, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Thị B nhận thức được từ 8 giờ ngày 06/7/2021, UBND Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định đóng cửa chợ đầu mối Bình Điền để phòng chống dịch Covid – 19. Do không tiếp tục mua bán được tại đây, nên từ 8 giờ ngày 05/7/2021 bị cáo đã thuê xe mô tô để di chuyển về quê nhà ông Lê Văn C tại ấp Long H, xã Long P, thị xã Long M, tỉnh Hậu Giang để tạm trú. Khi về đến địa phương bị cáo không tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của địa phương về phòng chống dịch Covid (chậm đi khai báo y tế, khi được yêu cầu đi khai thì khai không đúng lịch trình di chuyển, không tuân thủ đúng nguyên tắc 5K, đi lại nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người). Hành vi thực hiện không đúng quy định về phòng chống dịch của bị cáo là nguyên nhân gây lây lan dịch bệnh và hậu quả nghiêm trọng thực tế đã xảy ra, nên nội dung bản án sơ thẩm căn cứ điểm c khoản 1 Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự) tuyên bố bị cáo phạm tội Làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không nêu ra được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Tuy nhiên, xét nhân thân bị cáo mới phạm tội lần đầu; bản thân không biết chữ nên nhận thức sự việc bị hạn chế; hậu quả gây ra nghiêm trọng nhưng là vô ý; hiện đang mang thai; hoàn cảnh gia đình không cha, mẹ, người thân …Để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người sau khi phạm tội biết ăn năn, hối cải và nhằm tạo điều kiện cho bị cáo an tâm cải tạo sớm quay về với cộng đồng ổn định cuộc sống, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm một phần mức hình phạt cho bị cáo.
. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo không có nơi cư trú ổn định (hiện tại không đăng ký thường trú tại địa phương nào), sinh sống nhiều nơi khác nhau, nhưng không nơi nào bị cáo có đăng ký lưu trú hoặc tạm trú với cơ quan chức năng; bị cáo phạm tội trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng (làm lây lan dịch bệnh cho hơn 02 người). Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/3/2020 của Tòa án nhân dân tối cao, trường hợp phạm tội của bị cáo không được hưởng án treo, nên bản án sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm, do không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị B không phải chịu, do kháng cáo được chấp nhận.
. Về trình bày quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về đơn kháng cáo, cũng như nội dung vụ án tại phiên toà: Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị B phạm tội Làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và sửa bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận đơn kháng cáo ngày 08/9/2020 của bị cáo Nguyễn Thị B yêu cầu xin giảm nhẹ mức hình phạt. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo yêu cầu xin hưởng án treo. Sửa bản án sơ thẩm.
2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị B phạm tội “Làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 240; điểm s, n khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo.
Bị cáo Nguyễn Thị B không phải chịu.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 22/11/2021).