- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HÔN NHÂN GIA ĐÌNH"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh L đối với chị Lê Thu S.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2021/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 9 - 2021. V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Châu Minh Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Minh Thật.
2. Ông Phạm Ngọc Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thới Phần là Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Huỳnh Anh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2021 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lê Minh L, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp An Hưng, xã M A, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Chị Lê Thu S, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 10, xã VVA, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lê Minh Lý trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2016, anh Lê Minh L và chị Lê Thu S do quen biết và chung sống với nhau như vợ chồng. Đến ngày 30/8/2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã VVA, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, mặc dù đã tìm cách hàn gắn và động viên nhau nhưng không thành. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên anh chị đã ly thân.
Về con chung: Anh L và chị S có 01 con chung tên Lê Đăng Kh (nam), sinh ngày 11/9/2017. Cháu Kh hiện đang sống chung chị S.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, anh L vắng mặt có đơn xin Tòa án xét xử vắng mặt căn cứ vào lời trình bày và các tài liệu chứng cứ mà anh L đã cung cấp để giải quyết vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị S vắng mặt trong tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng chị S có cung cấp cho tòa án bản tự khai trình bày: Về quan hệ hôn nhân chị S đồng ý ly hôn với anh L; Về con chung chị S yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Kh, chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa chị S vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh L và chị S.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lý, cho ly hôn giữa anh L và chị S; Về con chung: Giao cháu Kh cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng, anh L chưa phải cấp dưỡng do chị S chưa yêu cầu, anh L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở; Về tài sản chung và nợ chung không có, nên không xem xét; Về án phí buộc anh L phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
. Nguyên đơn anh Lê Minh L khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn chị Lê Thu S. Đối chiếu theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 51, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ pháp luật trong vụ kiện này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn” được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
. Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lê Minh L và bị đơn chị Lê Thu S vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh L và chị S nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định pháp luật.
. Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân: Đối với quan hệ hôn nhân, anh L và chị S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh L và chị S được xem là hợp pháp. Quá trình chung sống anh L và chị S phát sinh nhiều mâu thuẫn. Anh L cho rằng mâu thuẫn giữa anh và chị S không thể hàn gắn, anh L không thể tiếp tục sống chung với chị S được nữa nên yêu cầu được ly hôn với chị S. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập anh L và chị S nhiều lần để hòa giải, động viên anh chị đoàn tụ nhưng chị S xin vắng mặt. Qua xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh L và chị S thì chính quyền địa phương không nắm rõ, chỉ thấy họ đã không còn chung sống một nhà, mạnh ai nấy sống, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa anh L và chị S thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, anh L và chị S đã ly thân. Từ đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng anh L và chị S không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ mà anh L yêu cầu xin ly hôn với chị S là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L. Cho anh L và chị S được ly hôn.
. Về con chung: Anh Lý và chị S có 01 con chung tên Lê Đăng Kh (nam), sinh ngày 11/9/2017. Cháu Kh hiện đang sống chung với chị S. Khi ly hôn anh L thống nhất giao cháu Kh cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi anh L và chị S ly thân cho đến nay, cháu Kh sống chung với chị Sư, được chị S chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Chị S cũng có yêu cầu được nuôi cháu Kh. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống và sự phát triển toàn diện của Kh nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Kh cho chị S được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh L chưa phải cấp dưỡng nuôi cháu Kh do chị S chưa yêu cầu. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật, không ai được cản trở.
. Về tài sản chung: Anh L và chị S khai không có và không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về nợ chung: Anh L và chị S khai không có và không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 273 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh L đối với chị Lê Thu S.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Minh L và chị Lê Thu S.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Đăng Kh (nam), sinh ngày 11/9/2017 cho chị Lê Thu S tiếp tục nuôi dưỡng. Anh L chưa phải cấp dưỡng nuôi cháu Kh do chị S chưa yêu cầu. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Anh L và chị S khai không có và không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Anh L và chị S khai không có và không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Lê Minh L phải nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí anh Lý đã nộp theo lai thu số 0006891 ngày 05/7/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
6. Nguyên đơn, bi đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - VKSND huyện Long Mỹ; - THADS huyện Long Mỹ; - TAND tỉnh Hậu Giang; - UBND xã VVA; - Các dương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Minh Tiếp |