vanban.org

Bản án 76/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 22/04/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Áp dụng: Điều 471 Bộ luật dân sự. Tuyên xử: Chấp nhận khởi kiện của bà Lâm Thị L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2021/DS-ST
Ngày 22 - 4 – 2021
V/v “Tranh chấp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Yên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Việt Thắng

Bà Nguyễn Huỳnh Hưởng

Thư ký phiên tòa: Nguyễn Quốc Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần văn Thời.

Ngày 22 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2021/TLST - DS ngày 22 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2021/QĐXXST – DS ngày 12 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lâm Thị L, sinh năm 1982

Bị đơn: Ông Nguyễn Thị C, sinh năm 1975

Và ông Võ Minh S, sinh năm 1974

Các đương sự cùng trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Lâm Thị L trình bày: Ngày 25/01/2018 âm lịch bà tham gia chơi 3 chân hụi loại 1.000.000đồng do vợ chồng bà C, ông S làm chủ, dây hụi có 36 chân, 1 tháng khui 1 lần vào ngày 25 âm lịch hàng tháng. Quá trình chơi hụi bà hốt hai chân, đóng hụi chết đầy đủ và đóng chân hụi còn lại đến khi mãn hụi ngày 30/11/2020 âm lịch. Sau khi trừ hụi chết, trừ hoa hồng chân hụi mãn bà hốt được 32.500.000 đồng, nhưng bà C, ông S không giao.

Nay yêu cầu bà C, ông S thanh toán cho bà tiền hụi bằng 32.500.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà nhận có làm chủ dây hụi 1.000.000 đồng, ngày mở hụi, khui hụi, số chân hụi và ngày mãn hụi, số tiền hụi phải giao cho người hốt cuối là bà L đúng như bà L trình bày. Sau khi hụi mãn do không gom hụi được đủ nên chỉ thanh toán được 22.500.000 đồng nhưng bà L không nhận, đòi giao đủ một lần bằng 32.500.000 đồng nên đến nay bà chưa thanh toán cho bà L. Nay bà yêu cầu buộc ông S cùng có trách nhiệm với bà thanh toán cho bà L khoản nợ hụi bằng 32.500.000 đồng.

Ông Võ Minh S trình bày: Ông nhận vợ chồng có làm chủ hụi, nợ tiền hụi đúng như bà L khai. Theo ông, sau khi hụi mãn, bà C gom hụi bỏ nhà đi nên số tiền trên bà C sử dụng riêng, do vậy ông không có trách nhiệm cùng bà C thanh toán khoản nợ này cho bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, bà L bảo lưu khởi kiện, yêu cầu bà C, ông S thanh toán cho bà tiền hụi bằng 32.500.000 đồng.

Bà C, ông S nhận có làm chủ hụi, loại hụi, số chân hụi, ngày mở hụi, khui hụi, quá trình bà L tham gia chơi hụi và số tiền bà L hốt hụi mãn đúng như bà L trình bày.

Bà C, ông S thừa nhận: Thời điểm mở hụi vợ chồng còn thuận thảo, mục đích chơi hụi là tạo thu nhập chung cho gia đình. Bà C cho rằng cuối năm 2020 vợ chồng mâu thuẫn, bà bỏ nhà đi làm thuê, ông S ở nhà gom tiền hụi và sử dụng vào mục đích riêng nên ông S phải có trách nhiệm thanh toán nợ hụi cho bà L. Ngược lại trình bày cảu bà C, ông S cho rằng bà C gom hụi rồi bỏ đi nên tự chịu trách nhiệm thanh toán.

Vụ việc các bên đương sự thống nhất là lượng tiền bà C, ông S nợ bà L nên không cần phải xem xét lại số lượng. Riêng trách nhiệm thanh toán bà C, ông S đổ trách nhiệm thanh toán cho nhau. Do giao dịch giữa các bên phát sinh từ năm 2018, bà C, ông S cùng làm chủ hụi, mục đích là tạo thu nhập cho gia đình bà C, ông S. Nên ông S, bà C điều có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho bà L là đúng theo qui định về quyền, vụ nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, nợ chung.

Án phí dân sự sơ thẩm bà C, ông S phải chịu theo qui định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 26; 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Áp dụng: Điều 471 Bộ luật dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận khởi kiện của bà Lâm Thị L.

Buộc ông Nguyễn Thị C, ông Võ Minh S phải liên đới thanh toán cho bà Lâm Thị L số tiền nợ bằng 32.500.000 đồng.

Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền phải trả thì hàng tháng bà C, ông S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà C, ông S chịu bằng 1.624.000 đồng. Bà L không phải chịu án phí, ngày 22/01/2021 bà L dự nộp 813.000 đồng tại

-2-

lai thu số 0004571 tại cơ quan thi hành án huyện Trần Văn Thời, được nhận lại khi có bản án có hiệu lực pháp luật.

Bản án này là sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ