vanban.org

Bản án 76/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 16/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Trần Nhật T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí

quân dụng”, “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Trộm cắp tài sản”. 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Trần Nhật T 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Trần Nhật T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Trộm cắp tài sản - phạm tội chế tạo, t…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Trần Nhật T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2020/HS-ST
Ngày 16 - 11 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Văn Lộc.

Ông Phan Văn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh là Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh

tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Hồng Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu

Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:

74/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số: 80/2020/QÐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Đặng Trần Nhật T (T1), sinh năm 1993, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp

T2, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá

(học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:

Việt Nam; con ông Đặng Văn T3 và bà Trần Phượng L; vợ, con: Chưa có; tiền

án: Ngày 17/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xử

phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b

khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong ngày 15/5/2019, tiền sự:

Không có; bị bắt ngày 26/4/2020, tạm giữ từ ngày 27/4/2020, chuyển tạm giam

từ ngày 06/5/2020 đến nay. (có mặt)

- Bị hại:

1. Chị Trần Thị T4, sinh năm 1995; cư trú tại ấp N, xã L1, huyện C, tỉnh

Tây Ninh. (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Vĩ K, sinh năm 2000; cư trú tại ấp T2, xã Đ, huyện C, tỉnh

Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 24/4/2020, bị cáo Đặng Trần Nhật T đến nhà của

Lê Hoàng Sơn, sinh năm 1991, ngụ ấp Cầy Xiêng, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh chơi thì gặp anh Nguyễn Vĩ K, sinh năm 2000, ngụ ấp Tua Hai, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Sau đó, bị cáo T đi ra phía sau nhà thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, màu xanh trắng đen biển số 70H1-361.84 của K, trên xe còn gắn chìa khóa. Lúc này, bị cáo T hỏi mua xe và kêu K cho xem giấy tờ xe nhưng K trả lời không bán. Trong lúc K chơi game không để ý, bị cáo T lén lút lấy trộm xe nói trên của anh K chạy về nhà cất giấu.

Đến khoảng 13 giờ ngày 25/4/2020, chị Trần Thị T4, sinh năm 1995. ngụ

ấp N, xã L1, huyện C, tỉnh Tây Ninh đến nhà cô ruột là bà Trần Phượng L, sinh năm 1972, tại ấp Tua Hai, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh chơi. Tại đây, chị T4 để điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max của mình trên ván gỗ trước nhà bà L rồi đi mua ốc về nấu ăn. Lúc này, bị cáo Đặng Trần Nhật T (con của bà L) nhìn thấy điện thoại nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, lợi dụng không ai để ý bị cáo T lén lút lấy trộm cất giấu trong người rồi điều khiển xe mô tô biển số 70H1-361.84 rời khỏi nhà. Khoảng 14 giờ ngày 26/4/2020, bị cáo T về nhà, bà L phát hiện điện thoại của T4 trong túi xách của bị cáo T nên lấy điện thoại trả lại cho T4. Phát hiện điện thoại không còn, bị cáo T nghi ngờ bà L lấy lại điện thoại nên đi qua nhà bà Trần Thị N1, sinh năm 1976, ngụ cùng ấp (em ruột bà L) tìm bà L để đòi lại điện thoại nhưng không được. Lúc này, bị cáo T lấy 01 khẩu súng ngắn trong túi quần phía sau để lên túi quần ngang hông rồi quay về cất giấu súng tại nhà.

Ngày 26/4/2020, theo lời khai của bị hại, nhân chứng và các chứng cứ có

L quan, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành thi hành lệnh giữ

người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đặng Trần Nhật T. Cùng ngày, bà Trần

Phượng L đã giao nộp 01 cây súng do bị cáo T cất giấu tại nhà. Tiến hành khám

xét khẩn cấp chỗ ở của T phát hiện 01 bịch nylon màu trắng có một đầu kéo xếp

bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M), cùng nhiều đồ vật,

tài liệu có L quan.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra làm rõ nguồn gốc bịch nylon màu

trắng và cây súng được thu giữ thể hiện:

Vào khoảng tháng 3/2020, bị cáo T đến khu vực huyện Gò Dầu, tỉnh Tây

Ninh gặp một người đàn ông tên T5 (không rõ họ tên và địa chỉ) mua ma túy đá

với số tiền 1.500.000 đồng mang về nhà cất giấu để sử dụng dần thì bị lực lượng

Công an khám xét nhà thu giữ.

Vào khoảng tháng 4/2020, thấy trên trang mạng xã hội Facebook rao bán

súng, đạn tự chế nên bị cáo T đặt mua một khẩu súng ngắn loại Ru lô (loại súng

tự chế) màu trắng bạc, báng súng bằng gỗ, nòng bằng kim loại, có ba lỗ chúa

đạn và ba viên đạn bằng kim loại cỡ 5mm, đầu đạn bằng chì với số tiền

2.500.000 đồng. Khoảng 03 ngày sau, bị cáo T đi một mình đến khu vực chân

cầu vượt Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người thanh niên (không biết

họ tên, địa chỉ) để nhận súng và đạn. Sau đó, bị cáo T mang về nhà cất giấu,

mục đích để phòng thân.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 08/KL-HĐĐG ngày

08/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu

Thành kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro

Max, màu đen xanh, bộ nhớ 256GB, số sê ri: F2LZN1APN705, đã qua sử dụng,

có giá trị là 21.000.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 14/KLB-HĐĐG ngày

23/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu

Thành kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh

trắng đen, biển số 70H1-361.84, số khung SG9408Y025085, số máy

1S94025085, đã qua sử dụng có giá trị là 22.300.000 đồng.

Tại kết luận giám định số 575/KL-KTHS ngày 28/4/2020 của Phòng kỹ

thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên

trong 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín có một đầu kéo xếp (kí hiệu

M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 3,0690

gam.

Tại kết luận giám định số 2511/C09B ngày 19/5/2020 của Phân viện

Khoa học hình sự tại TP.Hồ Chí Minh kết luận:

+ Khẩu súng ngắn gửi giám định là vũ khí được chế tạo thủ công để bắn

được với đạn thể thao cỡ (5,6x15,6) mm. Hiện tại, các bộ phận chính của súng còn đủ, lắp ráp đúng vị trí và bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng nằm trong danh mục vũ khí quân dụng.

+ 03 viên đạn màu vàng gửi giám định là đạn chưa bắn thuộc loại đạn thể

thao cỡ (5,6x15,6) mm. Loại đạn này được sử dụng để bắn với một số loại súng có cỡ nòng 5,6 mm như: súng ám sát hình bút máy, K55, TOZ8…và các loại súng được chế tạo thủ công có đường kính buồng đạn 6mm.

Trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị T4 và anh Nguyễn Vĩ K đã nhận lại tài

sản bị mất trộm nên không yêu cầu gì thêm.

Qua xác minh, bị cáo không có tài sản nên không tiến hành kê biên tài

sản.

Cáo trạng số: 81/CT-VKSCT ngày 06 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Đặng Trần Nhật T về các tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự, “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh

Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về các tội danh nêu trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều

52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Trần Nhật T từ 02 đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản

1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Trần Nhật T từ 02 đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1

Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Trần Nhật T từ 02 đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đặng

Trần Nhật T phải chấp hành hình phạt chung của cả ba tội.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật

Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh xử lý theo thẩm quyền:

01 (một) khẩu súng, nòng bằng kim loại, có 03 lỗ chứa đạn, bán súng bằng gỗ;

02 (hai) viên đạn màu vàng chưa sử dụng, cỡ (5,6x15,6) mm.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong, ghi vụ số 575/KL-

KTHS, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc Thái, trợ lý giám định Nguyễn

Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tây

Ninh; 01 (một) bình thủy tinh trong suốt, nắp màu đỏ, trên nắp có một đoạn ống

thủy tinh và một đoạn ống nhựa; 01 (một) bật lửa màu đỏ.

+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone 6S Plus, số ID: BCG-

E2944A, IC 579C-E2944A, màu vàng - trắng, bên trong không có sim điện thoại

(không kiểm tra được số Imei).

- Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị hại không yêu cầu bồi thường.

Bị cáo Đặng Trần Nhật T thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại

diện Viện kiểm sát, không có ý kiến bào chữa cho mình.

Lời nói sau cùng của bị cáo Đặng Trần Nhật T: Bị cáo biết sai, xin Hội

đồng xét xử xử nhẹ nhất cho bị cáo để sớm quay về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Tây

Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh,

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,

truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật

Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc

khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án chứng minh được ngày 24/4/2020, tại ấp Cầy Xiêng, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, bị cáo T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Vĩ K là 01 xe mô tô biển số 70H1-361.84 trị giá 22.300.000 đồng; ngày 25/4/2020, tại ấp Tua Hai, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, bị cáo T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Trần Thị T4 là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Pro Max trị giá 21.000.000 đồng. Ngoài ra, ngày 26/4/2020, Cơ quan điều tra còn phát hiện bị cáo T có hành vi tàng trữ trái phép 01 khẩu súng có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 3,0690 gam nhằm mục đích sử dụng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Trần Nhật T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự, “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo về tội phạm nêu trên là có căn cứ.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là

nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy và an toàn công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét đến nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có 01

tiền án, chưa được xoá án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn phạm tội 02 lần trở lên đối với tội trộm cắp tài sản là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá

trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51

Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện

Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đề nghị là có căn cứ để xem xét.

Do bị cáo phạm nhiều tội nên căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng

hợp hình phạt theo quy định.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có khả

năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung

đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên

ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ

luật Tố tụng hình sự:

- Đối với 01 (một) khẩu súng, nòng bằng kim loại, có 03 lỗ chứa đạn, bán

súng bằng gỗ; 02 (hai) viên đạn màu vàng chưa sử dụng, cỡ (5,6x15,6) mm: Đây

là vũ khí quân dụng nên cần tịch thu giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh xử

lý theo thẩm quyền.

- Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong, ghi vụ số 575/KL-KTHS, có

chữ ký của giám định viên Võ Quốc Thái, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và

dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tây Ninh là chất ma

tuý, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 (một) bình thủy tinh trong suốt, nắp màu đỏ, trên nắp có một

đoạn ống thủy tinh và một đoạn ống nhựa; 01 (một) bật lửa màu đỏ: Đây là vật

dụng bị cáo dùng để sử dụng chất ma tuý, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu

tiêu huỷ.

- Đối với 01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone 6S Plus, số ID: BCG-E2944A, IC

579C-E2944A, màu vàng - trắng, bên trong không có sim điện thoại (không

kiểm tra được số Imei) không là vật chứng của vụ án nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai

trăm nghìn) đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản

lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Trần Nhật T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí

quân dụng”, “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều

52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Trần Nhật T 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản

1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Trần Nhật T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1

Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Trần Nhật T 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đặng

Trần Nhật T phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/4/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi

thường.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố

tụng hình sự.

- Tịch thu giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh xử lý theo thẩm quyền:

01 (một) khẩu súng, nòng bằng kim loại, có 03 lỗ chứa đạn, bán súng bằng gỗ; 02 (hai) viên đạn màu vàng chưa sử dụng, cỡ (5,6x15,6) mm.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây

Ninh theo biên bản bàn giao VKTBKT ngày 07/9/2020).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong, ghi vụ số 575/KL-

KTHS, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc Thái, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tây Ninh; 01 (một) bình thủy tinh trong suốt, nắp màu đỏ, trên nắp có một đoạn ống thủy tinh và một đoạn ống nhựa; 01 (một) bật lửa màu đỏ.

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone 6S Plus, số ID: BCG-

E2944A, IC 579C-E2944A, màu vàng - trắng, bên trong không có sim điện thoại (không kiểm tra được số Imei).

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự

huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày

16/9/2020).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a

khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đặng Trần Nhật T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí

hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên

án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được

bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ