vanban.org

Bản án 76/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 .

hành từ ngày 01/01/2014. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Phan Đan Thy Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 .
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 76/2020/ HNGĐ-ST
Ngày: 17-01/2020
V/v: “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhơn

2. Bà Bùi Thị Cẩm Vân

Thư ký phiên toà:

Ông Trần Xuân Trường - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà:

Bà Hoàng Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 1243/2019/TLST-HNGĐ ngày 12/7/2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 607/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/12/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 326/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27/12/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1962 (có mặt)

Bị đơn : Bà Trần Thị Ngọc B, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Phường 6, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn kiện cùng các lời khai của ông Nguyễn Quốc H trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thể hiện như sau:

Ông và bà Trần Thị Ngọc B tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2010, được UBND Phường 25, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 80, quyển 01/2010, ngày 20/4/2010.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình nên vợ chồng thường xảy ra tranh cãi, khi mâu thuẫn xảy ra bà B đã dọn đồ qua nhà cha mẹ ruột sống để lại con nhỏ cho ông chăm sóc, nuôi dạy. Với mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ, để chùng nhau nuôi dạy con cái nên ông H đã nhiều lần qua nhà cha mẹ vợ tìm gặp bà B để giải hòa nhưng bà B không đồng ý quay về chung sống với cha con ông. Trong suốt thời gian sống ly thân từ năm 2014 đến nay, một mình ông vừa lo kinh tế gia đình vừa chăm sóc dạy dỗ con cái, còn bà B thì không quan tâm đến việc cha con ông sống như thế nào và cũng chưa một lần đến thăm con kể từ khi sống ly thân đến nay. Vì thời gian vợ chồng sống ly thân cũng đã lâu, ông và bà B mạnh ai lo cuộc sống của người đó, cả hai không còn sự quan tâm chia sẻ lẫn nhau nên tình cảm vợ chồng đã dần phai nhạt.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng là không thể nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà B để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Ông H khai ông và bà B có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Diệp, sinh ngày 07/6/2010, từ khi sống ly thân đến nay con do ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên ông yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Ông H không yêu cầu bà B cấp dưỡng việc nuôi con chung cho ông.

Về tài sản chung: Ông H khai ông và bà B không có tài sản chung.

Về nợ chung: Ông H khai ông và bà B không có nợ chung.

Phía bị đơn – bà Trần Thị Ngọc B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, Giấy triệu tập lên Tòa án làm bản tự khai, Thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà B vẫn không đến Toà và cũng không có ý kiến phản hồi bằng văn bản về các yêu cầu của phía nguyên đơn.

Tại phần tranh luận:

Nguyên đơn không phát biểu ý kiến tranh luận.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng :

Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS.

Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 BLTTDS.

Về nội dung:

Ngày 20/5/2019 Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh nhận được đơn của ông Nguyễn Quốc H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà Trần Thị Ngọc B.

Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy, Ông H và bà B sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND phường 25, quận Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn kết hôn số 80, quyển số 01/2010 ngàu 20/4/2010 thì quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà B là hợp pháp. Nguyên đơn

- ông H xin được ly hôn do từ năm 2014 vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và ông bà đã sống ly thân từ 2014 đến nay. Bị đơn - bà B đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bà B không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không gửi ý kiến trình bày nguyện vọng về quan hệ hôn nhân và việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.

Về con chung: Ông H và bà B có 1 con chung là Nguyễn Thị Ngọc Diệp sinh ngày 07/6/2010. Khi ly hôn ông H yêu cầu được nuôi con, ông H không yêu cầu bà B cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay trẻ Diệp đang được ông H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Để ổn định cuộc sống của trẻ nên giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H phải đóng án phí dân sự sơ thẩm.

Bởi các lẽ trên, đề nghị HĐXX xem xét tuyên: Căn cứ Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đương sự; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa ông Nguyễn Quốc H và bà Trần Thị Ngọc B là tranh chấp về Ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn – bà Trần Thị Ngọc B có địa chỉ cư trú tại số 123/12/4 Nguyễn Xí, Phường 26, quận Bình Thạnh. Theo kết quả cung cấp chứng cứ ngày 12/8/2019 của Công an Phường 26, quận Bình Thạnh, có cơ sở xác định bà bà Trần Thị Ngọc B có đăng ký tạm trú tại địa chỉ trên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 27/12/2019 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 17/01/2020 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên tòa theo quy định.

. Về yêu cầu của nguyên đơn :

Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Quốc H và bà Trần Thị Ngọc B được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND Phường 25, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 80, quyển 01/2010, ngày 20/4/2010, nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Qua các lời khai của ông H có trong hồ sơ và tại phiên tòa đều khẳng định tình trạng hôn nhân giữa ông và bà B đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Nguyên nhân chính do bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi. Ông khẳng định hiện ông không còn tình cảm với bà B, cả hai đã sống ly thân một thời gian dài và giữa đôi bên cũng không còn sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau về mọi mặt trong cuộc sống, mạnh ai lo cuộc sống của người đó.

Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ lúc thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà Trần Thị Ngọc B đến Toà án để giải quyết theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong đó có hai lần triệu tập hợp lệ bà B đến Tòa để Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ nhưng bà B đều vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến phản hồi nào về yêu cầu ly hôn của ông H. Điều này thể hiện, bà B thực sự không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân giữa bà và ông H, không có thiện chí giải quyết mâu thuẫn vợ chồng để cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, chung tay nuôi dạy con cái.

Mặt khác, Toà án cũng đã nhiều lần phân tích, động viên ông H quay về đoàn tụ với bà B nhưng ông H khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng hàn gắn là không thể, trước đây ông đã nhiều lần tha thiết giải hòa mong bà B quay về chung sống với cha con ông, nhưng bà B đã cương quyết không quay về, từ khi sống ly thân đến nay bà B không một lần đến thăm con, lâu ngày tình cảm ông dành cho bà B đã dần phai nhạt. Vì vậy, ông cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà B.

Từ các cơ sở trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông H và bà B đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H.

Về con chung: Ông H khai ông và bà B có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Diệp, sinh ngày 07/6/2010. Ông H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ khi ông bà sống ly thân đến nay, trẻ Diệp đã quen với việc được ông H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, còn bà B lại không có bất kỳ ý kiến gì về yêu cầu nuôi con. Để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ, cần tránh sự thay đổi làm ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải tiếp tục giao trẻ Diệp cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, đây cũng là nguyện vọng của trẻ Diệp.

Nghĩa vụ cấp dưỡng việc nuôi con: Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông H, về việc không yêu cầu bà B cấp dưỡng việc nuôi con.

Về tài sản chung: Ông H khai ông bà bà B không có tài sản chung.

Về nợ chung: Ông H khai ông bà bà B không có nợ chung.

3.Về án phí : Ông H phải nộp án phí DSST không có giá ngạch là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227 ; Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Áp dụng Luật thi hành án dân sự;

- Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc H:

Về quan hệ vợ chồng: Ông Nguyễn Quốc H và bà Trần Thị Ngọc B được ly hôn.

Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Thị Ngọc Diệp, sinh ngày 07/6/2010 cho ông Nguyễn Quốc H trực tiếp nuôi dưỡng.

Nghĩa vụ cấp dưỡng việc nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Quốc H, về việc không yêu cầu bà Trần Thị Ngọc B cấp dưỡng việc nuôi con chung.

Bà Trần Thị Ngọc B được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông H khai ông và bà B không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông H khai ông và bà B không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các bên thi hành án tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

2. Án phí DSST : 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Quốc H nộp toàn bộ, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông H đã nộp theo biên lai thu số 0021274 ngày 10/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Sau khi cấn trừ ông H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Quốc H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trần Thị Ngọc B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ