- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Huỳnh Văn L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Huỳnh Văn L được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 232 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2020/HNGĐ-ST Ngày: 16/6/2020 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Phi Hùng
2. Ông Dương Tuấn nh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Vắng mặt
Ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1994 (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn L, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã B, Thới Bình, Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện ngày 28/10/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày:
Chị và anh L được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 28/12/2016. Thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên anh chị đã ly thân từ tháng 11/2018 đến nay. Xét thấy không thể tiếp tục chung sống được nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn L.
Về con chung: Chị N và anh L có 01 người con chung tên Huỳnh Nguyễn Gia B - sinh ngày 07/7/2018, hiện tại đang do chị N nuôi dạy. Khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu B, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Huỳnh Văn L. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Anh Huỳnh Văn L có địa chỉ tại ấp C, xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, có tống đạt hợp lệ cho anh L nhưng anh L không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị N và vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng này cho anh L nhưng anh L vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh L theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Huỳnh Văn L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 28/12/2016. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa chị N cho rằng thời gian chung sống giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hôn nhân không hạnh phúc, anh chị đã ly thân từ tháng 11 năm 2018 đến nay nên chị N yêu cầu ly hôn với anh L. Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tổ chức hòa giải để chị N và anh L có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh L vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Huỳnh Văn L được ly hôn là phù hợp.
Về con chung: Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Huỳnh Nguyễn Gia B - sinh ngày 07/7/2018. Xét thấy, cháu B hiện nay dưới 36 tháng tuổi, đồng thời hiện nay cháu đang sống ổn định cùng chị N, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của cháu. Vì vậy cần giao cháu B cho chị N tiếp tục nuôi dạy là phù hợp.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định vợ chồng không tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Tại xác nhận ngày 28/10/2019 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận hiện tại không ai khiếu kiện chị N và anh L về nợ tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, Điều 232 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Huỳnh Văn L được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Nguyễn Gia B - sinh ngày 07/7/2018 (giới tính nam) cho chị Nguyễn Thị Huỳnh N tiếp tục nuôi dạy. Anh Huỳnh Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 11 tháng 02 năm 2020 chị N có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010958 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh L vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; -VKSND huyện Thới Bình; -Chi cục THADS huyện Thới Bình; -TAND tỉnh Cà Mau; - UBND xã B; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Khoa |