- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim P-Đặng Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án ly hôn và được giải quyết như sau:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2020/HNGĐ-ST Ngày 21 tháng 8 năm 2020 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Xươnne
2. Ông Hứa Văn Khương
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thanh Dũng, Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thụ lý số 309/2020/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim P, địa chỉ: ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
2. Bị đơn: Đặng Văn H, địa chỉ: 979/10, ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 6 năm 2020, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim P trình bày: Giữa nguyên đơn với bị đơn là ông Đặng Văn H kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện từ năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận kết hôn cấp ngày 19 tháng 3 năm 2008. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đặng Ngọc Như Q sinh ngày 10/7/2008, hiện nay cháu Q đang sống chung với bà P. Quá trình chung sống do không cùng quan điểm, tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn cãi nhau và đã sống ly thân từ năm 2009 đến nay. Nay bà P yêu cầu ly hôn ông H; về con chung bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi và không yêu cầu ông H cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ, bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Đặng Văn H trình bày: Ông H thừa nhận phần trình bày của bà P về thời điểm cưới nhau, đăng ký kết hôn, con chung của hai người là đúng; ông H cho biết từ khi vợ chồng cưới nhau năm 2008 thì về chung sống với gia đình cha mẹ ruột của ông ở ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, đến đầu năm 2009 thì vợ chồng cùng nhau đi làm ăn ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong khoảng thời gian này vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẫn và cãi nhau, dẫn đến phải sống ly thân. Nay bà P yêu cầu ly hôn thì ông H cũng đồng ý vì vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2009 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau; về con chung là cháu Q hiện đang sống với bà P và bà P có yêu cầu trực tiếp nuôi thì ông H cũng chấp nhận; về tài sản chung và nợ ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Viện Kiểm sát: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nhìn chung đều thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn và áp dụng các Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung chưa thành niên cho bà P trực tiếp nuôi, ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của bà P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
[1] Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim P là nguyên đơn và ông Đặng Văn H là bị đơn trong vụ án vắng mặt, nhưng bà P và ông H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông H xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, bà P nhận thấy vợ chồng không cùng chung quan điểm, tính tình không hợp nhau nên luôn xảy ra mâu thuẫn dẫn đến phải sống ly thân, cuộc sống chung không có hạnh phúc, nên bà P yêu cầu ly hôn ông H; về phía ông H, khi cung cấp lời khai cho Tòa án, ông cũng đồng ý ly hôn và không muốn hàn gắn; trên thực tế, bà P và ông H đã và đang sống ly thân trong khoảng thời gian dài từ năm 2009 cho đến nay. Trong vụ án này, Tòa án không tiến hành hòa giải được do cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin vắng mặt hòa giải, xét xử; Tòa án đã xác minh ở chính quyền địa phương nơi bị đơn cư trú để tìm hiểu nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng nhưng địa phương không nắm được. Hội đồng xét xử thấy rằng, quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, nay bà P đặt ra yêu cầu ly hôn, không muốn quay lại cuộc sống vợ chồng với ông H nữa, ông H cũng chấp nhận việc ly hôn. Xét thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.
Về con chung: Bà P và ông H có 01 con chung chưa thành niên là cháu Đặng Ngọc Như Q sinh ngày 10/7/2008, bà P có yêu cầu được trực tiếp nuôi, ông H cũng đồng ý để bà P nuôi cháu Q, nên đây được xem là các đương sự đã thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con, thỏa thuận này cũng đúng với nguyện vọng của cháu Q thể hiện tại bản tường trình lập ngày 02/7/2020, được Hội đồng xét xử ghi nhận và dành quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho ông H, theo quy định tại Điều 81 và khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.Về vấn đề cấp dưỡng, trên cơ sở tự nguyện của bà P không yêu cầu cấp dưỡng, Hội đồng xét xử ghi nhận và không buộc ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, các Điều 147, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án ly hôn và được giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim P được ly hôn ông Đặng Văn H.
- Về con chung: Giao cháu Đặng Ngọc Như Q sinh ngày 10/7/2008 cho bà Nguyễn Thị Kim P để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành; ông Đặng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà P tự nguyện không yêu cầu được ghi nhận. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông H, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004271, ngày 08/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách; - Chi cục THA dân sự huyện K; - Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng (để BC); - UBND xã A, huyện K-ST; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Diệu |