vanban.org

Bản án 76/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Cẩm G đối với anh Ngô Văn B.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Võ Thị Cẩm G và anh Ngô Văn B. 2. Về con chung: Giao con chung tên Ngô Gia Khang (nam), sinh ngày 04/6/2010 cho anh Ngô Văn B nuôi dưỡng. Chị Võ Thị Cẩm G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ thá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Cẩm Giang - Ngô Văn Biên"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Cẩm G đối với anh Ngô Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29-4-2020
V/v: “Ly hôn giữa chị G
và anh B”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Quỹ

2. Ông Nguyễn Hoàng Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Lưu Quốc Phú – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2020 về“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Cẩm G, sinh năm 1990 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP.Cần Thơ.

2. Bị đơn: Anh Ngô Văn B, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP.Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Võ Thị Cẩm G trình bày:

- Về hôn nhân: Do mai mối và được đồng ý của cha, mẹ gia đình hai bên nên vào năm 2009 chị và anh Ngô Văn B đã cưới nhau, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi cưới, vợ chồng sống chung với cha mẹ chồng tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ và sống hạnh phúc đến đầu năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Khi mâu thuẫn xảy ra, chị và anh G đã có gắng hàn gắn nhưng không thành. Đến khoảng tháng 10/2011 do mâu thuẫn quá trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân như thế không đem lại hạnh phúc cho cả hai nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh B.

- Về con chung: Có một con chung tên Ngô Gia Khang (nam), sinh ngày 04/6/2010, hiện do anh B nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị đồng ý giao cho anh B nuôi dưỡng, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 5/2020 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Ngô Văn B không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thi Cẩm G.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng.

Về nội dung:

- Về hôn nhân: Chị Võ Thị Cẩm G và anh Ngô Văn B cưới nhau vào năm 2009, không có đăng ký kết hôn. Nay chị G yêu cầu ly hôn với anh B, nhưng do hôn nhân giữa chị G và anh B không có đăng ký kết hôn nên đề nghị không công nhận chị G và anh B là vợ chồng.

- Về con chung: Chị Võ Thị Cẩm G đồng ý giao con chung tên Ngô Gia Khang cho anh Ngô Văn B nuôi dưỡng. Xét cháu Khang hiện do anh B nuôi dưỡng nên đề nghị giao cháu Khang cho anh B nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Tuy không ghi được ý kiến của anh B về việc có hay không việc yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị G tự nguyện cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 5/2020 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Đây là sự tự nguyện của chị G nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về tài sản chung: Chị Võ Thị Cẩm G khai không có nên không xem xét giải quyết.

- Về nghĩa vụ chung: Chị Võ Thị Cẩm G khai không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết: Chị Võ Thị Cẩm G khởi kiện anh Ngô Văn B có địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ với yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi con chung sau khi ly hôn nên xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Khi tiến hành xét xử, chị Võ Thị Cẩm G có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh Ngô Văn B được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị G, anh B theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Võ Thị Cẩm G trình bày, chị và Ngô Văn B cưới nhau vào năm 2009 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời kỳ hôn nhân, giữa chị và anh B có nhiều mâu thuẫn, bất hòa dẫn đến chị và anh B không còn sống chung với nhau từ tháng 10/2011 cho đến nay. Trong thời gian này, chị và anh B không có quan tâm đến nhau, ai cũng có cuộc sống riêng. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm gì với anh B và cuộc sống như thế không đem lại hạnh phúc cho cả hai nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh B. Còn anh B, mặc dù đã được triệu tập đến Tòa án nhiều lần để giải quyết, nhưng anh vẫn không đến và cũng không có bất cứ văn bản nào gửi cho Tòa án để nêu ý kiến của mình. Như vậy, anh B đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa chị G và anh B không có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh, chị không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Vì vậy, không công nhận chị G và anh B là vợ chồng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về con chung: Chị Võ Thị Cẩm G đồng ý giao con chung tên Ngô Gia Khang cho anh Ngô Văn B nuôi dưỡng. Xét thấy, Gia Khang hiện do anh B nuôi dưỡng và anh B có đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Gia Khang. Cho nên, Hội đồng xét xử giao Gia Khang cho anh B nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tuy không ghi được ý kiến của anh B về việc có hay không việc yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị G tự nguyện cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 5/2020 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Xét đây là sự tự nguyện của chị G và sự tự nguyện này không trái với quy định pháp luật, đạo đức xã hội, đồng thời cũng phần nào đảm bảo cho sự phát triển của Gia Khang. Cho nên, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về nghĩa vụ chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Cẩm G phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 9; Điều 14; Điều 15; Điều 51; Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Cẩm G đối với anh Ngô Văn B.

1.1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Võ Thị Cẩm G và anh Ngô Văn B.

1.2. Về con chung: Giao con chung tên Ngô Gia Khang (nam), sinh ngày 04/6/2010 cho anh Ngô Văn B nuôi dưỡng. Chị Võ Thị Cẩm G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 5/2020 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho chị Võ Thị Cẩm G, không ai được phép cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

1.4. Về nghĩa vụ chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Cẩm G phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị G đã nộp theo B lai số 012984 ngày 14 tháng 02 năm 2020 thành án phí.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Cẩm G phải chịu 300.000 đồng.

4. Tuyên án công khai. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ