vanban.org

Bản án 76/2020/HNĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao cho bà H được tiếp tục nuôi dạy cháu Nguyễn T N, sinh ngày 06/4/2012, hiện đang sống chung với bà. Ông T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và ia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T NH N
N
Bản án số: 76/2020/HN Đ-ST
Ngày: 12-3-2020
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình
về ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯ C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PH

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Thanh Hùng;

2. Ông Ngô Văn Thi

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện n Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Triết – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở T a án nhân dân huyện n Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 409/2019/TLST-HN Đ ngày 03 tháng 12 năm 2019 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐST-HN Đ ngày 05/02/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu dân cư ấp V, xã KB, huyện n Phú, tỉnh n iang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu dân cư ấp V, xã KB, huyện n Phú, tỉnh n iang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại T a án, bà H trình bày: Hôn nhân của bà và ông T xác lập trên cơ sở tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T không quan tâm chăm sóc vợ con, có quan hệ với người phụ nữ khác, cuộc sống không hợp và cả hai không c n sống chung với nhau từ năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, nay xin ly hôn.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn T N, sinh ngày 06/4/2012 hiện đang sống chung với bà H. Nay ly hôn, yêu cầu nuôi con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng thì không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn T không có văn bản hoặc ý kiến trình bày đối với yêu cầu của bà H. Không tham gia các buổi hoà giải, phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ.

Cháu Nguyễn T N có nguyện vọng muốn sống cùng mẹ khi cha, mẹ ly hôn.

Tại phiên tòa:

Bà H có mặt, bảo lưu ý kiến của mình như đã trình bày, không đồng ý đoàn tụ.

Ông T vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên t a phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, quá trình h a giải, xác minh, thu thập chứng cứ… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên t a cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án và quá trình hỏi đáp tại phiên t a cho thấy hôn nhân giữa bà H và ông T có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Giao cháu N cho bà H nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do bà H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Bà H phải chịu án phí về hôn nhân gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên t a và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên t a. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn, quyền nuôi con chung với ông T, các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện n Phú. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung và thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nhân dân huyện An Phú.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông T vắng mặt không có lý do mặc dù đã triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử T hành xét xử vắng mặt ông.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà H và ông T xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên là hôn nhân hợp pháp được công nhận theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu của bà H xin ly hôn với ông T thì thấy: Trong đời sống hôn nhân giữa hai bên thường hay phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông T không quan tâm chăm sóc vợ con và cả hai đã không c n chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, thời gian không chung sống giữa hai bên không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm gia đình. Ông T đã được tống đạt các thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo hoà giải nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của bà H, không tham gia hòa giải để tìm biện pháp hàn gắn lại tình cảm gia đình.

Lời trình bày của bà H về nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian không c n chung sống c n được xác nhận bởi lời khai của ông Nguyễn Văn Ca, theo đó khi phát sinh mâu thuẫn thì gia đình hai bên đã tự hoà giải nhưng không thành.

Tại phiên hoà giải, phiên toà bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T, không đồng ý đoàn tụ vì vậy có đủ cơ sở xác định mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng nên yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về việc nuôi con chung, cấp dưỡng: Cháu Nguyễn T N cho biết hiện cháu đang sống với mẹ và có nguyện vọng muốn sống với mẹ khi cha, mẹ ly hôn. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, để tránh việc thay đổi môi trường sống có thể ảnh hưởng cho sự phát triển ổn định về tâm, sinh lý của con, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giao cháu N cho bà H được tiếp tục nuôi dạy.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Việc thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng…được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Do bà H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Trường hợp bà và ông T có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân thì có quyền khởi kiện trong một vụ án khác.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 của Luật Hôn nhân và ia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí T a án.

Xử:

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Giao cho bà H được tiếp tục nuôi dạy cháu Nguyễn T N, sinh ngày 06/4/2012, hiện đang sống chung với bà.

Ông T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà H và người thân thích trong gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, T a án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

- Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0011644 ngày 03/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện n Phú.

iấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 20, thuộc Quyển số 01 do của Uỷ ban nhân dân xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh n iang cấp ngày 14/02/2011 không c n giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên t a hoặc vắng mặt khi tuyên án, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ