- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 76/2020/DS-ST Ngày: 14/7/2020 V/v tranh chấp H p đ ng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Tâm.
2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt, là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Ch M i, t nh An Giang tham
gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới,
tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 437/2019/TLST-DS,
ngày 20 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp H p đ ng tín dụng” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 205/2020/QĐXXST-DS, ngày 25 tháng 5 năm 2020 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ; trụ sở: số 130 Phan Đ,
phường 3, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T – Chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
Người đại diện h p pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T1 – Chức
vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ. Là đại diện ủy quyền
theo Văn bản ủy quyền số 122/QĐ-DAB-HĐQT ngày 27/4/2016.
Người đại diện h p pháp của ông T1: Ông Bạch Ngọc H – Chức vụ: Giám
đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh An Giang – Phòng Giao
dịch Chợ Mới. Là đại diện ủy quyền theo Văn bản ủy quyền số 1269/QĐ-DAB-
PC ngày 26/7/2016.
Người đại diện h p pháp của ông H: Ông Nguyễn Thành L – Chức vụ:
Nhân viên Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Phòng Giao dịch Chợ Mới; địa chỉ: số 06A đường N, thị trấn C, huyện M, tỉnh An Giang. Là đại diện ủy quyền lại theo Văn bản ủy quyền ngày 30/10/2019 (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Lê Kim G, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp N, xã M, huyện M,
tỉnh An Giang (Vắng mặt).
3. Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Thanh T2, sinh năm
1969; địa chỉ: ấp N, xã M, huyện M, tỉnh An Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và các biên bản hòa giải, người đại diện
theo ủy quyền lại của nguyên đơn, ông Nguyễn Thành L trình bày: Ngày 04/5/2018, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và bà Lê Kim G thỏa thuận ký hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00841841/0131644001T18102, theo Hợp đồng thì bà G vay số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 04/5/2018 đến hết ngày 04/5/2019, lãi suất trong hạn 10%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Phương thức trả nợ gốc, lãi hàng tháng. Hình thức vay tín chấp.
Cùng ngày, Ngân hàng đã giải ngân cho bà G đủ số tiền 20.000.000 đồng
theo Danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà G trả vốn: 7.917.950 đồng, lãi 1.282.050 đồng, tổng cộng 9.200.000 đồng thì ngưng đến nay, mặc dù Ngân hàng có nhắc nhở bà G nhiều lần nhưng bà vẫn không thực hiện và số nợ đến nay đã quá hạn, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Lê Kim G có nghĩa vụ thanh toán số tiền vốn 12.082.050 đồng, lãi trong hạn 717.950 đồng, lãi quá hạn 1.428.325 đồng (tính đến ngày 31/10/2019), tổng cộng 14.228.325 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đến ngày Tòa án xét xử.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Thanh T2, thì thời
điểm bà G vay tiền của Ngân hàng, ông T2 biết việc này và có cam kết bảo lãnh số tiền vay của bà G theo Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng, nhưng bà G vay tiền của Ngân hàng với tư cách cá nhân, với hình thức tín chấp, nên Ngân hàng không yêu cầu ông T có nghĩa vụ liên đới cùng bà G thanh toán nợ cho Ngân hàng. Trường hợp, bà G không có khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ khởi kiện ông T bằng vụ kiện khác. Đối với việc xác nhận của đơn vị (Ủy ban nhân dân xã M), nơi bà G công tác tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00841841/0131644001T18102 ngày 04/5/2018, thì phía đơn vị của bà G có trách nhiệm đôn đốc, nhắc nhở cán bộ, công nhân viên thuộc Cơ quan, tổ chức mình quản lý có trách nhiệm trả nợ đúng theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và Thông báo cho phía Ngân hàng biết khi có cán bộ, công nhân viên chức nghĩ việc hay điều động công tác để Ngân hàng biết để thu hồi nợ đối với những người đã vay vốn tại Ngân hàng, nên Ủy ban nhân dân xã M không có trách nhiệm liên quan trong vụ kiện. Do đó, Ngân hàng không yêu cầu
Tòa án đưa Ủy ban nhân dân xã M vào tham gia tố tụng với tư cách là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, ông L đại diện Ngân hàng xác định yêu cầu bà Lê
Kim G có nghĩa vụ thanh toán số tiền vốn 12.082.050 đồng, lãi trong hạn
717.950 đồng, lãi quá hạn 3.071.956 đồng (tính đến ngày 14/7/2020), tổng cộng
15.871.956 đồng và tiền lãi phát sinh trên vốn gốc 12.082.050 đồng theo mức lãi
suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số
00841841/0131644001T18102 ngày 04/5/2018, kể từ ngày 15/7/2020 đến ngày
bà G thanh toán dứt nợ. Ông L xác định do mục đích bà G vay tiền của Ngân
hàng là để tiêu dùng cá nhân nên Ngân hàng không yêu cầu chồng bà G cùng có
trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn bà Lê Kim G, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao
Thanh T2 được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ để
tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải nhưng vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến và không hòa
giải được.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của
người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: Ngày 04/5/2018, giữa Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Đ và bà Lê Kim G có ký hợp đồng tín dụng số 00841841
với số tiền 20.000.000 đồng (đã giải ngân ngày 04/5/2018), thời hạn vay 12
tháng (từ ngày 04/5/2018 đến ngày 04/5/2019), lãi suất trong hạn 10%/năm, lãi
suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Hình thức vay tín chấp.
Trong quá trình thực hiện, bà G trả được 9.200.000 đồng, trong đó vốn
gốc: 7.917.950 đồng, lãi 1.282.050 đồng thì ngưng đến nay. Nay, Ngân hàng yêu
cầu bà G trả vốn gốc còn nợ 12.082.050 đồng, lãi trong hạn 719.950 đồng, lãi
quá hạn 3.071.956 đồng (tính đến ngày 14/7/2020), tổng cộng 15.871.956 đồng
và tiền lãi phát sinh trên vốn gốc từ ngày 15/7/2020 đến khi bà G thanh toán hết
nợ.
Phía bà Lê Kim G, ông Cao Thanh T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ,
nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ghi nhận ý kiến.
Xét thấy, hợp đồng tín dụng số 00841841 ngày 04/5/2018, giữa Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Đ với bà Lê Kim G được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa
thuận. Do bà G vi phạm nghĩa vụ, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà G trả vốn
gốc còn nợ 12.082.050 đồng, lãi trong hạn 719.950 đồng, lãi quá hạn 3.071.956
đồng (tính đến ngày 14/7/2020), tổng cộng 15.871.956 đồng và tiền lãi phát sinh
trên vốn gốc từ ngày 15/7/2020 đến khi bà G thanh toán hết nợ là có căn cứ.
Đối với ông Cao Thanh T2 (chồng của bà G) có cam kết bảo lãnh số tiền
vay cho bà G, nhưng bà G vay với tư cách cá nhân với hình thức tín chấp do Ủy
ban nhân dân xã M chỉ xác nhận việc bà G công tác tại đơn vị trong thời gian ký
kết hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng không yêu cầu Ủy ban nhân dân xã M, ông
T2 nên không đề cập đến.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468
Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
- Buộc bà Lê Kim G trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền
vốn gốc còn nợ 12.082.050 đồng, lãi trong hạn 719.950 đồng, lãi quá hạn 3.071.956 đồng (tính đến ngày 14/7/2020), tổng cộng 15.871.956 đồng và tiền lãi phát sinh trên vốn gốc từ ngày 15/7/2020 đến khi bà G thanh toán hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khởi kiện bà Lê Kim G. Bà G có
nơi cư trú ấp N, xã M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Bị đơn bà Lê Kim G, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao
Thanh T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà G, ông T2 là có căn cứ.
Tại phiên tòa hôm nay, ông L đại diện Ngân hàng yêu cầu bà Lê Kim
G có nghĩa vụ thanh toán số tiền vốn 12.082.050 đồng, lãi trong hạn 717.950 đồng, lãi quá hạn 3.071.956 đồng (tính đến ngày 14/7/2020), tổng cộng 15.871.956 đồng và tiền lãi phát sinh trên vốn gốc 12.082.050 đồng theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00841841/0131644001T18102 ngày 04/5/2018, kể từ ngày 15/7/2020 đến ngày bà G thanh toán dứt nợ. Xét thấy, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Đối với Ủy ban nhân dân xã M (gọi tắt là Ủy ban), Hội đồng xét xử
nhận thấy, căn cứ theo xác nhận của Ủy ban trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn bà G ký kết với Ngân hàng thì phía Ủy ban chỉ có nghĩa vụ nhắc nhở, đôn đốc cán bộ thuộc quyền quản lý của Cơ quan mình để thực hiện nghĩa vụ với Ngân hàng và Ủy ban cũng không bảo lĩnh số tiền vay của cá nhân bà G với Ngân hàng. Bên cạnh đó, phía Ngân hàng cũng đề nghị Tòa án không đưa Ủy ban vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Do đó, Tòa án không đưa Ủy ban vào tham gia tố tụng là có cơ sở.
Hội đồng xét xử xét thấy, Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số
00841841/0131644001T18102 ngày 04/5/2018 ký kết giữa Ngân hàng với bà G được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, hình thức và nội dung
hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội và phù
hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng tín dụng hợp pháp, được
pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ theo hợp đồng tín dụng đã làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự
2015. Trong quá trình thực hiện hợp đồng phía bà G không thực hiện nghĩa vụ
trả vốn, lãi suất đúng hạn cho Ngân hàng để phát sinh nợ quá hạn là vi phạm
nghĩa vụ của người vay theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Do đó, việc
Ngân hàng khởi kiện bà G yêu cầu trả vốn gốc còn nợ 12.082.050 đồng, lãi
3.789.906 đồng (tính đến ngày 14/7/2020), tổng cộng 15.871.956 đồng là có căn
cứ, phù hợp với quy định tại Điều 280, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015,
Điều 91 và Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có yêu cầu bà G phải tiếp tục chịu
lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số
00841841/0131644001T18102 ngày 04/5/2018 đã ký kết từ ngày 15/7/2020 cho
đến khi bà G thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng. Hội đồng xét xử xét
thấy, theo hợp đồng tín dụng có thỏa thuận mức lãi suất cho vay trong hạn, lãi
suất nợ quá hạn. Do bà G vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải tiếp tục chịu
khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng
cho đến khi bà G thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng là phù hợp với Điều
357 Bộ luật dân sự 2015.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Thanh T2. Hội
đồng xét xử xét thấy, theo hồ sơ thể hiện bà G có chồng là ông Cao Thanh T2, số
nợ này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và ông T1 biết việc bà G vay tiền của
Ngân hàng, đồng thời cam kết bảo lãnh số nợ này của bà G. Tuy nhiên, trong quá
trình làm việc và tại phiên tòa hôm nay Ngân hàng xác định bà G vay tiền của
Ngân hàng là vay cá nhân, với hình thức tín chấp nên Ngân hàng không yêu cầu
ông T2 cùng có nghĩa vụ liên đới với bà G trả nợ cho Ngân hàng cũng như không
yêu cầu trách nhiệm bảo lãnh của ông T2 đối với số nợ này. Do đó, Hội đồng xét
xử không đề cập giải quyết. Trường hợp, bản án có hiệu lực pháp luật mà bà G
không có khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền khởi
kiện ông T2 yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bà G theo thỏa thuận mà
phía ông T2 đã cam kết bảo lãnh bằng vụ kiện khác.
Từ những phân tích trên, có cơ sở buộc bà Lê Kim G có nghĩa vụ trả
cho Ngân hàng Thương mại cổ phẩn Đông Á số tiền vốn gốc còn nợ 12.082.050
đồng, lãi 3.789.906 đồng (tính đến ngày 14/7/2020), tổng cộng 15.871.956 đồng
và bà Lê Kim G phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên
thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng cho đến khi bà G thanh toán xong khoản nợ
với Ngân hàng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận
nên bà G phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: - Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227,
Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ
luật dân sự 2015;
- Các Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Đ đối với bà Lê Kim G.
- Buộc bà Lê Kim G có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phẩn
Đông Á số tiền vốn gốc còn nợ 12.082.050 đồng, lãi 3.789.906 đồng (tính đến ngày 14/7/2020), tổng cộng 15.871.956 đồng (Mười lăm triệu tám trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm năm mươi sáu) đồng.
- Kể từ ngày 15/7/2020, bà Lê Kim G còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi
theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00841841/0131644001T18102 ngày 04/5/2018 cho đến khi bà G thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ thì lãi suất mà bà G phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Kim G phải chịu 793.598 (Bảy trăm
chín mươi ba nghìn năm trăm chín mươi tám) đồng.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 355.700 (Ba trăm
năm mươi lăm nghìn, bảy trăm) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Phòng giao dịch Chợ Mới đại diện nhận theo biên lai thu số 0007719 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới cấp ngày 20/12/2019.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |