vanban.org

Bản án 76/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 29/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thành Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Xử. Phạt bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/9/2019. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. B… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thanh Đ phạm Tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thành Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NGẠN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:76/2019/HSST
Ngày 29 tháng 10 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn An Ninh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Mai.

Ông Giáp Văn Phẩm

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Sâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.

Đại diện VKSND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: ông Hoàng Minh Đức - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 81/2019/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo: Ngô Thành Đ, sinh năm 1989. Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Cả, xã Phong Minh, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hoá: Lớp 9/12. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Bố đẻ: Ngô Văn B, sinh năm 1962. Mẹ đẻ: Nông Thị O, sinh năm 1963, đều làm ruộng, vườn tại thôn Cả, xã Phong Minh, huyện Lục Ngạn, Bắc Giang. Vợ, con: Chưa có. Anh, chị em ruột: Có 04 anh chị em, bị cáo là thứ tư. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2013/HSST ngày 16/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Ngô Thành Đ 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 30/7/2013 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù về địa phương, ngày 27/6/2013, bị cáo chấp hành xong phần án phí. Tính đến ngày phạm tội mới bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/9/2019, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lục Ngạn. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại:

- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1976 (Vắng mặt)

Trú quán: thôn Cả, xã Phong Minh, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1975 (Vắng mặt)

Trú quán: thôn Cả, xã Phong Minh, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 06/9/2019, bị cáo Ngô Thành Đ đi bộ một mình từ nhà đến Trạm y tế xã Phong Minh, huyện Lục Ngạn. Khi đi đến cổng trạm y tế xã Phong Minh. Bị cáo quan sát thấy phía bên trong Cổng trạm y tế có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon Da, loại WaveS, màu đỏ đen, biển kiểm soát 98E1-126.20 của chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1976, trú tại thôn Cả, xã Phong Minh dựng ở sân trạm y tế xã Phong Minh, khi đó chị T đang vào bên trong trạm y tế để thăm người nhà bị ốm nằm điều trị ở trạm y tế. Quan sát thấy không có người trông giữ, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên của chị T để mang đi bán lấy tiền chi tiêu.

Thực hiện ý định trên bị cáo Đ tiến lại gần chiếc xe mô tô của chị T, thì thấy chìa khóa điện vẫn cắm ở ổ khóa, bị cáo liền dắt chiếc xe mô tô ra ngoài đường khoảng 10m rồi ngồi lên xe mở khóa điện đề nổ máy. Bị cáo điều khiển xe mô tô đi xuống thị trấn Chũ, khi đi đến đoạn đường thuộc dốc Đèo Váng thuộc xã Hộ Đáp, huyện Lục Ngạn, bị cáo Đ dừng xe lại, mở cốp xe ra kiểm tra thì thấy bên trong cốp xe có 01 đăng ký xe mô tô và 01 giấy phép lái xe mô tô đều mang tên Nguyễn Văn C, sinh năm 1975, trú tại thôn Cả, xã Phong Minh, huyện Lục Ngạn. Kiểm tra xong bị cáo Đ lại tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đi xuống thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn để tiêu thụ. Khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 31 thuộc thôn Kép 1, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, do bị cáo không đội mũ bảo hiểm nên bị Tổ công tác của Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Lục Ngạn ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra. Khi bị dừng xe để kiểm tra, bị cáo đã mở cốp xe mô tô lấy đăng ký xe mô tô và giấy phép lái xe mô tô cho tổ công tác kiểm tra. Do đăng ký xe mô tô và giấy phép lái xe mô tô không phải tên Đ nên tổ công tác của Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Lục Ngạn đã hỏi Đ về nguồn gốc chiếc xe mô tô thì Đ đã khai nhận chiếc xe mô tô Đ điều khiển là do Đ vừa trộm cắp được ở trạm y tế xã Phong Minh. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản làm việc, sau đó đưa Đ về trụ sở Công an huyện Lục Ngạn và giao Đ cùng tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn. Tại cơ quan điều tra Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Ngày 09/9/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô mà Đ đã trộm cắp. Tại kết luận định giá tài sản số 140/KL-HĐ ngày 09/9/2019, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Lục Ngạn xác định giá trị của chiếc xe mô tô trên ở thời điểm chiếm đoạt là 5.700.000đ.

Cáo trạng số 86/CT-VKS-HS ngày 11/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Ngô Thành Đ, phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy đinh khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Ngô Thành Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội.

Tại phiên tòa hôm nay bị hại là chị Nguyễn Thị T; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn C. Đều vắng mặt HĐXX công bố lời khai của những người này bị cáo không có ý kiến gì.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự . Tuyên bố bị cáo Ngô Thành Đ, phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Thành Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/9/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Chị T và anh C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì T. Nên không đặt ra xem xét giải quyết

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Người bị hại là chị Nguyễn Thị T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập, nhưng vắng mặt HĐXX xét thấy, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Ngô Thành Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bản Kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 06/9/2019, tại trạm y tế xã Phương Minh, huyện Lục Ngạn. Bị cáo Ngô Thành Đ đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon Da, Wave S, màu sơn đỏ đen, biểm kiểm soát 98E1-126.20 của chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1976, trú tại thôn Cả, xã Phong Minh, huyện Lục Ngạn. Khi đang trên đường mang xe đi tiêu thụ thì bị bắt giữ. Trị giá chiếc xe mô tô Đ trộm cắp là 5.700.000đ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách liều lĩnh ngay tại khu Đng dân cư chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật. Vì lợi ích cá nhân bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, tại Bản án hình sự số Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2013/HSST ngày 16/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Ngô Thành Đ 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Tính đến ngày phạm tội mới bị cáo đã được xóa án tích.

HĐXX, xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với hành vi, tính chất mức độ phạm tội của bị cáo. Có như vậy mới đủ tính răn đe đối với bị cáo cũng như nhằm mục đích đấu tranh, phòng ngừa đối với loại tội phạm này.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo có thái độ khai B thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.

Do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon Da, Wave S, màu sơn đỏ đen, biểm kiểm soát 98E1-126.20; 01 đăng ký xe mô tô số 013087 và 01 Giấy phép lái xe mô tô sô AB 891281 đều mang tên Nguyễn Văn C, sinh năm 1975, trú tại thôn Cả, xã Phong Minh, huyện Lục Ngạn. Ngày 24/9/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh C .

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị T đã nhận lại tài sản mà bị cáo Ngô Thành Đ trộm cắp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 .

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thành Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Xử. Phạt bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/9/2019. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ