vanban.org

Bản án 76/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 25/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và mức hình phạt:

Giao các bị cáo Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R cho Ủy ban nhân dân xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Già Bá T và các đồng phạm phạm tội "Bắt, giữ người trái pháp luật" - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ SƠN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2019/HSST
Ngày 25 tháng 6 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Và Bá Cải

Bà Lữ Thị Khăm.

- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Khuyên - Thư ký - Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án đưa vụ án ra xét xử số: 81/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Già Bá T; tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 21/7/1997 tại xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: bản P, xã xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An;

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Già Xái C và bà Vừ Y R; có vợ là Lỳ Y M và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt giữ từ ngày 09/02/2019 đến ngày 15/02/2019 thì được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; bị cáo có mặt.

2. Họ và tên: Già Xái C; tên gọi khác: Không;

Sinh năm 1957 tại xã ML, huyện KS, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: bản P, xã xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An;

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: lớp 02/10; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Già Nhìa L (đã chết) và bà Lầu Y X (đã chết); có vợ là Vừ Y R và 08 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; bị cáo có mặt.

3. Họ và tên: Già Bá G; tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 15/03/1994 tại xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: bản P, xã xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An;

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: lớp 05/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Già Xái C và bà Vừ Y R; có vợ là Xồng Y C và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; bị cáo có mặt.

4. Họ và tên: Hờ Bá R- tên gọi khác: Hờ Bá B;

Sinh ngày 02/8/1992 tại xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: bản P, xã xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An;

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: lớp 05/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hờ Tồng X và bà Xồng Y M; có vợ: Cử Y N con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; bị cáo có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Công Th - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị hại: Anh Đào Văn H. Sinh năm 1989. Trú tại: Xóm S, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (đã có đơn xin xử vắng mặt);

- Người làm chứng:

1. Chị Lỳ Y M, sinh năm 1997; Trú tại: Bản P, xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An; Có mặt.

2. Anh Già Bá Ch, sinh năm 1982; Trú tại: Bản P, xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

3. Anh Già Rua Th, sinh năm 1972; Trú tại: Bản P, xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An; Có mặt.

4. Anh Già Giống C; tên gọi khác: Già Bá H, sinh năm 1981; Trú tại: Bản P, xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

5. Bà Kha Thị D, sinh năm 1962; Trú tại: Khối M, thị trấn MX, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo cáo trạng số 69/VKS-HS ngày 19/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An thì các bị cáo Già Bá T, Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R đã có hành vi bắt, giữ người trái pháp luật và bị truy tố theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Già Bá T, Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R đã thừa nhận đã có hành vi bắt, giữ người trái pháp luật với các tình tiết như nội dung bản cáo trạng đã nêu, cụ thể là: Vào khoảng 10 giờ ngày 07/02/2019, Già Bá T có cầm điện thoại của vợ là chị Lỳ Y M thì phát hiện trong điện thoại có lưu giữ nhiều tin nhắn tình cảm giữa chị Lỳ Y M và anh Đào Văn H (sinh năm 1989, trú tại xóm S, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An). Sau đó, Già Bá T hỏi vợ thì được biết giữa chị Lỳ Y M và anh Đào Văn H đã có quan hệ tình cảm bất chính với nhau.

Ngày 08/02/2019, Già Bá T chở vợ ra xã Huồi Tụ, huyện Kỳ Sơn rồi gọi điện cho ông Già Xái C (là bố đẻ) và hai anh trai là Già Bá G, Già Bá Thông và những người khác gồm Già Rua Th, Hờ Bá R và Già Bá Ch để bàn phương án bắt quả tang mỗi quan hệ bất chính giữa chị Lỳ Y M và anh Đào Văn H. Sau khi bàn bạc thống nhất, Già Bá T lấy điện thoại của vợ nhắn tin cho anh Đào Văn H hẹn gặp nhau tại thị trấn MX, huyện KS. Vì tưởng là chị Lỳ Y M nhắn tin hẹn gặp mình nên anh Đào Văn H đồng ý. Khi biết anh Đào Văn H đã đồng ý lên thị trấn MX để gặp chị Lỳ Y M thì ông Già Xái C đi mua 01 (một) sợi dây thừng màu trắng dài khoảng 03m (ba mét) mang theo rồi cùng với mọi người đi ra thị trấn MX. Ra đến nơi, Già Bá T đưa mọi người vào khách sạn PD (thuộc khối M, thị trấn MX, huyện KS, tỉnh Nghệ An) thuê hai phòng nghỉ (một phòng cho vợ, phòng còn lại Già Bá T và những người trong nhóm đứng canh chừng), sau đó, Già Bá T đưa điện thoại cho chị Lỳ Y M nhắn tin với anh Đào Văn H biết số phòng của khách sạn. Khoảng 40 phút sau, anh Đào Văn H đến khách sạn PD rồi đi vào phòng của chị Lỳ Y M như đã hẹn, một lúc sau nhóm của Già Bá T chạy sang phòng chị Lỳ Y M và anh Đào Văn H đang ở để bắt quả tang. Lúc này Hờ Bá R và Già Bá G giữ hai tay của anh Đào Văn H để Già Bá Thông dùng dây thừng đã chuẩn bị sẵn trói anh Đào Văn H lại, sau đó Già Bá Thông điều khiển xe máy chở Già Bá G ngồi sau giữ anh Đào Văn H đi vào nhà ông Già Xái C tại bản P, xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An.

Khi về đến nhà, Già Xái C trói một tay anh Đào Văn H vào chân giường để anh Đào Văn H khỏi chạy trốn.

Đến khoảng 19 giờ ngày 09/02/2019, Công an huyện Kỳ Sơn nhận được tin báo đã giải thoát cho anh Đào Văn Hoà. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản sự việc, khám nghiệm hiện trường nơi anh Đào Văn H bị bắt giữ, qua kiểm tra phát hiện và thu giữ 01 sợi dây thừng màu trắng, dài 03m (ba mét).

Quá trình điều tra bị hại anh Đào Văn H khai: Khoảng tháng 11/2018 giữa anh và chị Lỳ Y M (vợ bị cáo Già Bá T) có nảy sinh tình cảm, đến ngày 08/02/2019 chị Lỳ Y M hẹn lên gặp mặt tại khách sạn PD thuộc khối M, thị trấn MX, huyện KS, thì bị Già Bá T, Già Xái C, Già Bá G, Hờ Bá R và một số người khác xông vào đánh đập và trói lại, bắt về nhà Già Bá T tại bản P, xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Đến ngày 09/02/2019 bị hại được cơ quan chức năng giải thoát. Quá trình điều tra bị hại từ chối giám đình tỉ lệ thương tật, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn giữ nguyên việc truy tố đối với các bị cáo Già Bá T, Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình xử phạt bị cáo Già Bá T mức án từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình xử phạt bị cáo Già Xái C mức án từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám); Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình xử phạt bị cáo Già Bá G mức án từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám); Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình xử phạt bị cáo Hờ Bá R mức án từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám); Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật và miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa: Đồng ý với bản luận tội của Viện kiểm sát nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét động cơ, mục đích phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa nhận thức về pháp luật còn hạn chế; các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra, các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên cho bị cáo được hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của. Các bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trông hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, các bị cáo Già Bá T, Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng thời gian từ 17 giờ ngày 08/02/2019 đến 19 giờ ngày 09/02/2019, tại bản P, xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An, mặc dù không có chức năng, thẩm quyền trong việc bắt, giữ người nhưng các bị cáo Già Bá T, Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R đã có hành vi bắt, giữ anh Đào Văn H. Hành vi đó của các bị cáo Già Bá T, Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R đã phạm vào tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; Nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của công dân được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi đó của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục riêng bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra cũng xét đến một phần lỗi của người bị hại đã có mối quan hệ bất chính với vợ của bị cáo Già Bá T dẫn đến sự bức xúc của Già Bá T nên đã rủ rê các bị cáo khác cùng thực hiện hành vi phạm tội, bản thân người bị hại cũng đã thừa nhận lỗi lầm của mình nên đã có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét đây là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đây là vụ án có đồng phạm nên phải phân hóa hành vi của mỗi bị cáo để lên cho mỗi bị cáo một mức án phù hợp với tính chất vai trò của từng bị cáo. Đối với bị cáo Già Bá T thực hiện tội phạm với vai trò là người cầm đầu, rủ rê, xúi dục là người giữ vai trò chính trong vụ án nên cần phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

Đối với các bị cáo Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R, do bị rủ rê, lôi kéo nhưng đã thực hiện tội phạm một cách tích cực, mặc dù giữ vai trò thứ yếu nhưng phải chịu trách nhiệm do chính hành vi mà mình đã gây ra. Xét các bị cáo Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R bị rủ rê, lôi kéo có vai trò không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để cho Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, tài sản không có nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Trong vụ án này còn có Già Bá Th bị khởi tố về hành vi bắt, giữ người trái pháp luật cùng các bị cáo Già Bá T, Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R, hiện nay Già Bá Th đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã tách vụ án và tiến hành truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý.

Đối với Già Rua Th và Già Bá Ch là những người được Già Bá T gọi đi bắt quả tang chị Lỳ Y M và anh Đào Văn Hoà quan hệ bất chính, tuy nhiên quá trình điều tra xác định hai người này đi cùng nhưng không tham gia vào việc bắt, giữ anh Đào Văn H nên chưa đủ căn cứ để xử lý.

Về vật chứng vụ án: 01 sợi dây thừng màu trắng, dài khoảng 03m (ba mét) mà các đối tượng sử dụng làm công cụ phạm tội, đây là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự đối với bị hại: Anh Đào Văn H không có yêu cầu gì thêm nên Tòa án không xem xét.

Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh và mức hình phạt:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Già Bá T phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật". Xử phạt bị cáo Già Bá T 09 (Chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 09/02/2019 đến ngày 15/02/2019.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Già Xái C phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật". Xử phạt bị cáo Già Xái C 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2019).

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Già Bá G phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật". Xử phạt bị cáo Già Bá G 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2019).

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Hờ Bá R phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật". Xử phạt bị cáo Hờ Bá R 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2019).

Giao các bị cáo Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R cho Ủy ban nhân dân xã ĐM, huyện KS, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) sợi dây thừng màu trắng dài khoảng 03m (ba mét), đã qua sử dụng. Vật chứng đang do Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 20 ngày 22/5/2019 giữa Công an huyện Kỳ Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Già Bá T, Già Xái C, Già Bá G và Hờ Bá R mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên bố: Các bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2019). Người bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ