vanban.org

Bản án 76/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 19/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H (Vũ Đệ) 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28 tháng 9 năm 2018.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị hại; Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc hậu - Trộm căp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H (Vũ Đệ) 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28 tháng 9 năm 2018.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Z
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2019/HS-ST
Ngày 19 tháng 4 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Z

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÊ THỊ HẠNG Các Hội thẩm nhân dân: Ông NGÔ TIẾN THÀNH

Bà NGUYỄN THỊ MỘNG LÀNH

- Thư ký phiên tòa: Bà TRƢƠNG ĐÌNH BẢO NGỌC – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Z

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z tham gia phiên tòa: Ông NGUYỄN GIỎI MẠNH PHI - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Z mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 109/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2019, Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 86/2019/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

NGUYỄN NGỌC HẬU (Vũ đệ) - Sinh năm 1990, tại Khánh Hòa; Nơi cƣ trú: số 17, tổ 11 Tây Nam, phƣờng VH, thành phố Z, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không. Trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc Á và bà Nguyễn Thị E. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Bản án số 28/2011/HSST ngày 06/5/2011 của Tòa án nhân dân thị xã NH, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 12 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (chấp hành xong hình phạt ngày 17/12/2011; Đã thi hành xong án phí của bản án (BL 72,74). Bị bắt tạm giữ, tam giam từ ngày 28 tháng 9 năm 2018. Có mặt.

* Bị hại:

1. Anh Trƣơng Minh T , Sinh năm 1990; Nơi cƣ trú: 18 Hẻm Hƣng Đạo, đƣờng HC, thành phố Z , tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

2. Anh Lê Tô Văn S, Sinh năm 1998; Nơi cƣ trú: 18 Hẻm Hƣng Đạo, đƣờng

HC, thành phố Z, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Phạm Minh L (Ba Bụng), sinh năm 1991; Nơi cƣ trú: Tổ 12, Tây Nam, phƣờng VH, thành phố Z, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

2. Bà Trần Thị G sinh năm 1967; Nơi cƣ trú: tổ 11 Tây Nam, phƣờng VH, thành phố Z, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

* Người làm chứng: Anh Lê Thanh H (H béc), sinh năm 1982; Nơi cƣ trú: 01A Sao biển, phƣờng VH, thành phố Z, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 3 giờ 00 phút, ngày 26 tháng 3 năm 2018, Nguyễn Ngọc H rủ Phạm Minh L đi trộm cắp tài sản, L đồng ý và cầm theo một kiềm cộng lực hiệu Asiki màu đen, mục đích đem đi để cắt khóa. H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen (không rõ biển kiểm soát) chở L đi tìm nhà nào sơ hở tài sản để trộm cắp. Khi đến khu phòng trọ số 18 đƣờng Hƣng Đạo, tổ 21 phƣờng V P, thành phố Z, L và H phát hiện tại sân khu để xe nhà trọ có nhiều xe mô tô đang dựng mà không có ngƣời trông coi nên bàn nhau trộm cắp xe. Thấy cổng khóa, L dùng kiềm cộng lực cắt ổ khóa, mở cửa. Khi cửa mở, H đi vào dắt xe máy hiệu Yamaha CZ125, màu đỏ đen, biển kiểm soát 79H1 – 42875 của anh Lê Tô Văn S ra khỏi khu nhà trọ. Lộc điều khiển mô tô Sirius đẩy xe máy Yamaha CZ125 (do H điều khiển) đến cất giấu tại bụi cây bên cạnh Nhà tạm giữ - Công an thành phố Z (thuộc phường V H thành phố Z). Sau đó, L điều khiển mô tô chở H quay lại khu nhà trọ tiếp tục lấy trộm thêm một xe mô tô hiệu Yamaha – Exciter màu xanh đen, biển kiểm soát 79H1 – 66461 của anh Trƣơng Minh T đến chỗ bụi cây đã cất giấu xe máy Yamaha CZ125 để tiếp tục cất giấu. Tại đây, L và H tháo biển kiểm soát của hai xe mô tô vừa trộm đƣợc mang đi vứt xuống sông tại khu vực cầu gỗ, thôn Hòn Nghê, xã VN, thành phố Z. Sau đó, H đem xe máy Exciter mới trộm cắp cất giấu tại nhà bà Trần Thị G (mẹ của L) còn L về nhà trọ ngủ. H đem xe mô tô Yamaha CZ125 bán cho một thanh niên tên “Nồ” (chưa xác định được lai lịch địa chỉ) đƣợc 15.000.000đồng. Sau khi bán xe, H chia cho Lộc 7.500.000 đồng. Số tiền này, cả hai đã sử dụng tiêu xài vào mục đích cá nhận.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 114/HDĐG ngày 30 tháng 3 năm 2018 và số 200/ HDĐG ngày 30 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Z kết luận: Xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 79H1 - 66461 có giá trị 45.500.000 đồng; Xe máy Yamaha – Cygnus, biển kiểm soát 70H1 - 42875 có giá trị 8.000.000đồng.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Ngọc H bỏ trốn đến ngày 26 tháng 9 năm 2018 Nguyễn Ngọc H đƣợc đƣa về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang làm việc và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 12 tháng 9 năm 2018, Phạm Minh L đã bị Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 23/CT-VKSNT ngày 03 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z truy tố Nguyễn Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” đƣợc quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc H thừa nhận: Khoảng 3 giờ sáng, ngày 26 tháng 3 năm 2018, bị cáo đã gọi điện thoại rủ Phạm Minh L đi trộm cắp tài sản, bị cáo điều khiển xe mô tô (không nhớ biển số) đến nhà chở L, còn L mang theo kiềm cộng lực. Khi đến số nhà 18 hẻm Hƣng Đạo, phƣờng VP trong sân có nhiều xe máy để mà không có ngƣời trông coi nên L đến phá khóa cổng, còn bị cáo đứng ngoài cảnh giới. L vào trong ban đầu lấy một xe Yamaha CZ125 màu đỏ đen ra, cả hai cùng đem đi cất giấu tại bụi cây bên cạnh nhà tạm giữ Công an thành phố Z. Sau đó, tiếp tục quay lại lấy thêm một xe máy hiệu Exciter. Đối với chiếc xe máy Yamaha CZ125 bị cáo đem bán cho một thanh niên tên “Nồ” không nhớ rõ họ tên với giá 15.000.000đồng, bị cáo đã chia cho L 7.500.000đồng. Cả hai tiêu xài hết. Riêng chiếc xe máy Exciter thì đã bị cơ quan công an thu giữ và trả lại cho bị hại. Tại phiên tòa ngày 18/01/2019, bị cáo đã nhớ nhầm nên khai có sự tham gia của Lê Thanh H (H béc), tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khẳng định: chỉ có bị cáo và Phạm Minh L cùng tham gia trộm cắp tài sản tại số nhà 18 hẻm Hƣng Đạo, phƣờng VP, thành phố Z vào ngày 26/3/2018 mà thôi, không có sự tham gia của Lê Thanh H. Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hồi đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Z giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Ngọc H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã đƣợc Hội đồng xét xử thẩm vấn công khai. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: bị hại vắng mặt nên tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu. Vật chứng vụ án: đã trả lại cho chủ sở hữu. về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại; ngƣời làm chứng đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của đƣơng sự không ảnh hƣởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng nhƣ của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.

Về nội dung: Khoảng 3 giờ ngày 26 tháng 3 năm 2018, tại khu phòng trọ số 18 hẻm Hƣng Đạo, tổ 21, đƣờng HC, phƣờng VP, thành phố Z; Nguyễn Ngọc H và Phạm Minh L đã lén lút trộm cắp một xe máy hiệu Yamaha - Exciter, biển kiểm soát 79H1- 66461 trị giá 45.500.000 đồng (Bốn mƣơi lăm triệu năm trăm ngàn đồng) của anh Trƣơng Minh T và một xe máy hiệu Yamaha - Cygnus Z, biển kiểm soát 70H1 - 42875 trị giá: 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) của anh Lê Tô Văn S. Tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là: 53.500.000đồng (Năm mươi ba triệu năm trăm ngàn đồng). Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng và các tài liệu khác đã thu thập đƣợc có trong hồ sơ vụ án và đƣợc thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Nhƣ vậy, Cáo trạng số 23/CT-VKSNT ngày 03 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân; Làm ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng. Trong vụ án, bị cáo là ngƣời khởi xƣớng, rủ rê đồng thời là ngƣời giúp sức đứng ngoài cảnh giới tạo điều kiện thuận lợi để Phạm Minh L trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại; Sau khi lấy trộm đƣợc tài sản của bị hại, bị cáo chính là ngƣời chủ động tìm nơi tiêu thụ tài sản, lấy tiền cùng đồng phạm tiêu xài cá nhân. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, bản thân đã từng bị kết án và đã có thời gian cải tạo nhƣng không lấy đó làm bài học cho bản thân, tu dƣỡng rèn luyện đạo đức, làm ăn lƣơng thiện mà lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; Hành vi của bị cáo thể hiện tính tham lam, tƣ lợi và coi thƣờng pháp luật. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo lại bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét vai trò tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử lý nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với Phạm Minh L đã bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 208/2018/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2018).

Đối với Lê Thanh H (H béc), tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc H khẳng định: không có sự tham gia của Hà trong vụ án trộm cắp tài sản nêu trên, lời khai của bị cáo Hậu phù hợp với lời khai của Phạm Minh L và Lê Thanh H (từ bút lục 129 đến 137) nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm của Lê Thanh H theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại (Đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường) vắng mặt nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.

Về vật chứng: Đã đƣợc xử lý tại Bản án số 208/2018/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc H (Vũ Đệ) 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28 tháng 9 năm 2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị hại; Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ