vanban.org

Bản án 76/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!THỌ!XUÂN!
TỈNH!THANH!HÓA!
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2019/HS-ST
Ngày 27 - 11 - 2019

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỌ!XUÂN,!TỈNH!THANH!HÓA!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Lê M Tiến

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Bùi Thanh Bình"

Ông Lưu M Sửu

- Thư ký phiên tòa:"Ông Lê Ngọc Công - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

!

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tho Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2019;

Đối với bị cáo: Lê!Mậu!M, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1989 tại: xã T1, huyên T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn 3, xã T1, huyên T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Mậu T (đã chết) và bà Dương Thị T1 (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: Ngày 28/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 22/8/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 20/9/2019 đã chấp hành xong hình phạt của hai bản án trên; nhân thân: Ngày 14/4/2009, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định số 1113/QĐ-UB(NC) đưa đi cơ sở giáo dục về hành vi trộm cắp tài sản, đến ngày 19/4/2011 đã chấp hành xong quyết định. Ngày 12/4/2016, bị Công an xã T1, huyên T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “trộm cắp tài sản”; bị bắt tạm giữ ngày 25/9/2019, chuyển tạm giam ngày 01/10/2019; có mặt.

-"Bị"hại:"Anh Lê Đức Q, sinh năm 1965, địa chỉ: thôn 1 Yên Lược, xã T1, huyên T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

-"Người"làm"chứng:"Anh Lê Quang T, địa chỉ: thôn 1 Yên Lược, xã T1, huyên T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt."

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/9/2019, Lê Mậu M từ nhà ở thôn 3 , xã T1, huyên T, tỉnh Thanh Hóa đi bộ đến cửa hàng bán đồ gỗ của anh Lê Đức Q, sinh năm 1965, ở thôn 1 , xã T1, huyên T, tỉnh Thanh Hóa thấy có 01 camera nhãn hiệu HIKVISION gắn trên biển quảng cáo tại cửa hàng, nên nảy sinh ý định trộm cắp. M trèo lên bờ tường nhà anh Lê Quang T (liền kề với cửa hàng anh Q) dùng tay giật bung chiếc camera, rồi dùng 01 chiếc bấm móng tay bằng kim loại, màu trắng (theo lời khai của M dài khoảng 05cm) cắt đứt dây điện kết nối với camera. Sau đó M đem chiếc camera trên đi cất giấu tại ngôi nhà không có người ở của anh Vũ Văn K, ở thôn 3, xã Thọ M. Anh Q phát hiện bị mất trộm tài sản đã làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thọ Xuân.

Đến khoảng 13 giờ ngày 25/9/2019 Lê Mậu M biết không thể trốn tránh được nên đã ra đầu thú và giao nộp chiếc camera trộm cắp được tại cửa hàng của anh Q.

Hành vi của Lê Mậu M đã được camera ghi hình tại cửa hàng của anh Lê Quang T ghi lại, ngày 26/9/2019 anh T đã giao nộp đoạn video có chứa hình ảnh Lê Mậu M cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thọ Xuân.

Cơ quan điều tra đã ra yêu cầu định giá số 53/CSĐT ngày 26/9/2019 yêu cầu định giá đối với 01 chiếc camera nhãn hiệu HIKVISION màu trắng (là tang vật vụ án). Tại Kết luận định giá số 45/KL-HĐĐG ngày 27/9/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thọ Xuân kết luận: giá trị của chiếc camera nhãn hiệu HIKVISION màu trắng là 518.400đ (năm trăm mười tám nghìn bốn trăm đồng).

Qúa trình điều tra Lê Mậu M khai: sau khi dùng chiếc bấm móng tay cắt đứt dây điện kết nối camera, M đã đánh rơi chiếc bấm móng tay ngay tại khu vực phía trước cửa hàng nhà anh Q. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng theo quy định, nhưng không có kết quả.

Về tang vật thu giữ:

- 01 đĩa CD có chứa hình ảnh Lê Mậu M được trích xuất từ camera do anh Lê Quang T giao nộp, hiện đang được lưu kèm theo hồ sơ vụ án;

- Đối với 01 chiếc camera nhãn hiệu HIKVISION màu trắng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lê Đức Q.

Về phần dân sự: Anh Lê Đức Q đã nhận lại tài sản bị mất trộm là chiếc camera nhãn hiệu HIKVISION màu trắng và không có yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSTX ngày 06/11/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Lê Mậu M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Mậu M thừa nhận hành vi trộm cắp chiếc camera nhãn hiệu HIKVISION màu trắng của gia đình anh Lê Đức Q ở thôn 1 Yên Lược, xã T1, huyên T, tỉnh Thanh Hóa đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì về nội dung kết luận định giá.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Mậu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Mậu M từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét. Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo nhận tội và xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời trình bày của bị hại, lời khai của người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận định giá, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/9/2019 Lê Mậu M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc camera nhãn hiệu HIKVISION màu trắng, có giá trị 518.400đ (năm trăm mười tám nghìn bốn trăm đồng) của gia đình anh Lê Đức Q ở thôn 1 Yên Lược, xã T1, huyên T.

Bị cáo Lê Mậu M là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý; mắc dù giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là dưới 2.000.000 đồng, nhưng do trước đó bị cáo đã bị kết án về tội “trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục vi phạm, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Trong vụ án này bị cáo chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, khi thấy có sự sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, đã bất chấp pháp luật, lợi dụng để chiếm đoạt tài sản của người khác. Vụ án xảy ra đã gây nên tâm lý hoang mang, bất bình trong nhân dân, đồng thời gây mất trật tự trị an, làm ảnh hưởng đến sự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo M tuổi đời còn trẻ, lẽ ra bị cáo phải chịu khó học tập, rèn luyện bản thân để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, nhưng bị cáo lại không chịu khó học tập, rèn luyên, mà ham chơi, thích hưởng thụ, sống buông thả dẫn đến phạm tội. Do vậy, việc đưa vụ án ra xét xử đối với bị cáo và lên một mức án nghiêm M tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả gây ra là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, tuyên truyền ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân.

[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Tòa án kết án về cùng tội “trộm cắp tài sản” và 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, vừa mới chấp hành xong hình phạt tù của bản án trước trở về địa phương sinh sống, nay lại tiếp tục phạm tội trộm cắp, chứng tỏ bị cáo không ăn năn hối cải, coi thường pháp luật; nên cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù nghiêm M, bắt cách ly khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo M trước đó đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, nhưng do tình tiết này đã áp dụng là dấu hiệu định tội, nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo M sau khi biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật đã ra đầu thú và khai báo về hành vi phạm tội của mình, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo.

[6] Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy: cần thiết phải xử phạt bị cáo Lê Mậu M bằng hình phạt tù như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp hành hình phạt. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, hoàn cảnh khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về tang vật thu giữ: Chiếc camera nhãn hiệu HIKVISION màu trắng, bị cáo M giao nộp khi ra đầu thú là tài sản thuộc sở hữu của gia đình anh Q, nên Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho anh Lê Đức Q là phù hợp; đối với 01 đĩa CD có chứa hình ảnh Lê Mậu M được trích xuất từ camera do anh Lê Quang T tự nguyện giao nộp, anh T không xin nhận lại, hiện đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án là phù hợp.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Đức Q đã nhận lại tài sản bị mất trộm là chiếc camera nhãn hiệu HIKVISION màu trắng và không có yêu cầu bồi thường gì, nên không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo Lê Mậu M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố: bị cáo Lê Mậu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Mậu M 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.

3. Về án phí: bị cáo Lê Mậu M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ