vanban.org

Bản án 76/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 15/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hồng S (Phạm Hùng S) phạm tội Trộm cắp tài sản .

Xử phạt Phạm Hồng S (Phạm Hùng S) 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt tạm giữ 18/8/2019. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM HỒNG S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hồng S (Phạm Hùng S) phạm tội Trộm cắp tài sản .
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2019/HS-ST
Ngày 15 - 11- 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Lương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và ông Nguyễn Như Tạ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hoàng - Kiểm Sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2019/TLST - HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2019/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Hồng S (Phạm Hùng S), sinh năm 1977 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn S (đã chết); con bà Phạm Thị S, sinh năm 1966; bị cáo có vợ là Lê Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1977 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 1997.

Nhân thân: Bản án số 17/2014/HSST ngày 09/02/2006 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội T ộm c p t i n .

Bản án số 1213/2016/HSPT ngày 23/8/2006 của Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố H Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội T ộm c p t i n , t ng hợp hình phạt với bản án số 17/2014/HSST ngày 09/ 02/2006 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 02 bản án là 08 năm 03 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 06/02/2013 được xóa án tích. Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/8/2019 - Có măt.

- Bị hại: Anh Điểu N, sinh năm 1987;

Địa chỉ: B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.

- Người l m chứng: Anh Điểu A, sinh năm 1982;

Địa chỉ: B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm H ng S sống lang thang, không có nghề nghiệp n định và đối tượng tên T là bạn bè quen nhau khi cùng đi làm thuê tại xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 18/8/2019 đối tượng T đưa cho S 01 bộ vam phá khóa điện xe mô tô (gồm: 03 thanh kim loại hình lục giác được m i dẹp một đầu v 01 ống điếu kim loại ố 8), r i T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu trắng (không rõ BKS) chở S đi từ hướng thị xã G theo QL 14 về hướng huyện Đ để tìm xem ai sở hở thì trộm cắp xe mô tô, khi đến đoạn đường đất thuộc B, xã Q, huyện Đ thì phát hiện trước sân nhà ông Điểu T có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa, kiểu dáng Wave, màu sơn vàng- đen- bạc, BKS 48B1-157.51 của anh Điểu N (là con rể ông Điểu T), trên xe còn cắm sẵn chìa khóa điện. Thấy không có người trông coi nên T dừng xe đứng ngoài cảnh giới, còn S đi bộ vào sân nhà dắt xe ra, khởi động máy bỏ chạy. Phát hiện bị mất xe anh Điểu N tri hô và cùng quần chúng nhân dân truy đu i và đ ng thời trình báo Công an huyện Đắk R’Lấp cùng truy bắt. Do không thông thuộc địa bàn nên đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, khi đang tìm đường tẩu thoát thì S bị bắt giữ cùng tang vật, còn đối tượng T đã trốn thoát. Sau khi bị bắt giữ Phạm H ng S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28 ngày 21/8/2019 của Hội đ ng định giá tài sản huyện Đắk R’lấp kết luận: Giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa, kiểu dáng Wave, BKS 48B1-157.51, tại thời điểm chiếm đoạt là 10.500.000đ.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản là đúng, phần trình bày lời nói sau cùng bị cáo chỉ đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng số: 66/CT-VKS ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp đã truy tố bị cáo Phạm H ng S về tội “T ộm c p t i n theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “T ộm c p t i n . Sau khi đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm H ng S từ 07 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, ngày 18/8/2019.

Về trách nhiệm b i thường thiệt hại; xử lý vật chứng đề nghị xử lý như bản cáo trạng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các các chúng cứ, tài liệu khác có trong h sơ vụ án, như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận về định giá tài sản, các biên bản hoạt động điều tra và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đ ng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 09 giờ ngày 18/8/2019, tại nhà ông Điểu T, thuộc B, xã Q, huyện Đ, Phạm H ng S có hình vi lén chiếm đoạt được của anh Điểu N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave, BKS 48B1-157.51, trị giá 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm ngàn đ ng).

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người n o t ộm c p t i n của người khác t ị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một t ong các t ường hợp au đây, thì bị phạt c i tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ..

Xét hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo nhận thức rằng quyền sở hữu tài sản của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, bất kỳ một hành vi chiếm đoạt trái pháp luật nào cũng đều bị xử lý nghiêm theo quy định, nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân cộng với ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, ngoài ra bị cáo đã từng có tiền án. Vì vậy, Hội đ ng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là người không có tiền án, tiền sự đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về quyết định hình phạt: Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đ ng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thì mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe người phạm tội và phòng ngừa tội phạm.

. Việc b i thường thiệt hại: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu b i thường nên Hội đ ng xét xử không giải quyết.

. Việc xử lý vật chứng: Xét 03 thanh lục giác và 01 ống điếu kim loại số 8 là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị nên tuyên tịch thu tiêu hủy (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2019).

Xét ngày 10/9/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp ra quyết định xử lý vật chứng số 49 trả lại xe mô tô nhãn hiệu HonDa, kiểu dáng Wave, BKS 48B1-157.51 (có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ) cho anh Điểu N là phù nên chấp nhận.

Đối với đối tượng tên T có hành vi cùng bị cáo S đi trộm cắp, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

. Về án phí: Bị cáo Phạm H ng S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ t ên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hồng S (Phạm Hùng S) phạm tội Trộm cắp tài sản .

Xử phạt Phạm Hồng S (Phạm Hùng S) 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt tạm giữ 18/8/2019.

2. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 03 thanh lục giác và 01 ống điếu kim loại số 8 là công cụ phạm tội (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2019)

Chấp nhận ngày 10/9/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp ra quyết định xử lý vật chứng số 49 trả lại xe mô tô nhãn hiệu HonDa, kiểu dáng Wave, BKS 48B1-157.51 (có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ) cho anh Điểu N là chủ sở hữu hợp pháp.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Phạm H ng S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nh n:

Cỡ chữ