- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Đào Duy T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Duy T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2018/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2018/HS - PT Ngày: 16 - 10 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thái Sơn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Việt
Bà Từ Thị Hải Dương
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Anh Việt, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình mở phiên toà lưu động xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 66/2018/TLPT- HS ngày 13 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Đào Duy T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2018/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo có kháng cáo: Đào Duy T, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1999 tại Quảng Bình; Nơi cư trú: thôn P, xã Ph, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Duy S (chết) và bà Trương Thị H; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị bắt tạm giam giữ ngày nào. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Minh T, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Vụ án có người bị hại nhưng không có kháng cáo, Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị nên Toà án không triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được xác định như sau: Đào Duy T đã hai lần đột nhập vào nhà của ông Trương Văn Ch lấy trộm tài sản, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 09 giờ ngày 03/4/2018, Đào Duy T đi bộ ra đường thấy nhà ông Trương Văn Ch đi vắng, cửa khóa, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, T trèo tường rào vào nhà ông Ch đi vòng ra phía sau nhà rồi bẻ một đoạn cành cây mớc dài khoảng 10cm đường kính khoảng 0,5cm luồn vào khe hở của cánh cửa, đẩy chốt cửa hông mở cửa đi vào nhà, thấy chìa khóa găm ở tủ ba buồng. T mở tủ lục trong túi áo khoác phao, thấy một sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có gắn mặt đá màu xanh bọc màu vàng đựng trong hộp nhựa màu hồng, T lấy trộm và cất vào túi quần. Sau đó T ra bếp lấy một cái kéo dài khoảng 20cm, lưỡi kéo bằng kim loại cán bằng nhựa màu đỏ rồi ra khỏi nhà bằng lối đã vào. T đóng cửa và dùng cái kéo chốt cửa lại như cũ rồi về nhà. T giấu hộp đựng sợi dây chuyền màu vàng vừa trộm được vào trong tủ đựng quần áo của gia đình, còn cái kéo giấu trong bụi tre trước nhà Tâm. Riêng đoạn cành mớc, T vứt tại nhà ông Ch. Theo kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lệ Thủy thì: dây chuyền kim loại màu vàng, mặt nạ màu vàng có gắn một viên đá màu xanh mà T đã lấy trộm là loại vàng 9999, trọng lượng 3 chỉ có giá 10.980.000 đồng,
Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 12/4/2018 T điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 75-914 F9 của gia đình đi đổ xăng, khi đi ngang qua nhà ông Ch phát hiện nhà khóa cửa, T nảy sinh ý định trộm cắp, T về nhà cất xe rồi lấy cái kéo đã trộm ở nhà ông Ch đi bộ tới nhà ông Ch, nhảy qua tường rào vào trong rồi sử dụng kéo để mở chốt cửa hông, đột nhập vào nhà ông Ch, phát hiện túi xách màu nâu treo trên tường ở phòng ngủ, T đã lục túi xách và lấy trộm một xấp tiền gồm 23 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng cất vào túi quần rồi ra khỏi nhà bằng lối cũ đồng thời dùng cái kéo đẩy chốt cửa lại như cũ và về nhà bà ngoại ở thôn P, xã Ph, trên đường về T đã vứt cái kéo xuống sông ở cầu Ph.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ tài sản là sợi dây chuyền kim loại màu vàng và 1.100.000 đồng đã trả lại cho ông Trương Văn Ch, mẹ bị cáo đã bồi thường số tiền 1.200.000 đồng cho ông Ch.
Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy đã truy tố Đào Duy T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2018/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy đã quyết định tuyên bố bị cáo Đào Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản". Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đào Duy T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Bị cáo Đào Duy T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tuyên quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm đối với bị cáo, người bị hại theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 10/8/2018 bị cáo Đào Duy T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Duy T, giữ nguyên án sơ thẩm về phần hình phạt 06 tháng tù đối với bị cáo.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ gây thiệt hại không lớn cho bị cáo và hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt từ 03 - 04 tháng tù.
Kiểm sát viên không đồng ý với đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý về áp dụng tình tiết giảm nhẹ gây thiệt hại không lớn đối với bị cáo và xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Theo lời khai nhận tội của bị cáo Đào Duy T tại phiên toà hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, tài sản trộm cắp bị thu giữ, Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, tổng giá trị tài sản hai lần bị cáo trộm cắp là 13.280.000 đồng, do đó Hội đồng xét xử thấy có căn cứ khẳng định Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2018/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy quyết định tuyên bố bị cáo Đào Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đào Duy T, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, bị cáo có hành vi phạm tội hai lần và mỗi lần có giá trị trên hai triệu đồng đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "phạm tội 02 lần trở lên" được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, do đó cần phải xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, án sơ thẩm đã cân nhắc xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù ngang mức khởi điểm của khung hình phạt là có phần nhẹ so với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Về ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ gây thiệt hại không lớn cho bị cáo và đề nghị xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy giá trị thiệt hại về tài sản là 13.280.000 đồng không phải là nhỏ, hơn nữa hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng lại có 01 tình tiết tăng nặng tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, nên không chấp nhận đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý. Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo và người bị hại có đơn trình bày đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình, nhưng xét hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự tại địa phương, các tình tiết giảm nhẹ này không có gì mới so với cấp sơ thẩm. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viển kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình là phù hợp.
. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Duy T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2018/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Đào Duy T 06 (sáu) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án và danh mục án phí.
Bị cáo Đào Duy T phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh QB; - Phòng HSNVCS CAQB; - TAND huyện Lệ Thủy; - VKSND huyện Lệ Thủy; - Công an huyện Lệ Thủy; - Chi cục THADS huyện Lệ Thủy; - Bị cáo; - Sở Tư pháp QB; - Vụ GĐKT 1 TANDTC; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu: Toà HS, án văn, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ( đã ký) Nguyễn Thái Sơn |