vanban.org

Bản án 76/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 06/09/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần BV.

Buộc ông Lê Chí B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần BV số tiền nợ tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2018 là : 241.119.321 đ (Hai trăm bốn mốt triệu một trăm mười chín nghìn ba trăm hai mốt đồng), trong đó vốn gốc là 161.111.108 đ (Một trăm sáu mốt triệu một trăm mười một nghìn một trăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng Bản Việt-Lê Chí Bửu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần BV.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76 /2018/DS-ST
Ngày 06 / 9 /2018
V/v " Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thuở.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Ngọc Hồng

2. Ông Trần Văn Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Nguyễn Yến Phương.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2018 tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2018/TLST- DS ngày 15 tháng 5 năm 2018 về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2018/QĐXX-ST ngày 01 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần BV.

Địa chỉ: 412, Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5, quận 3, thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang Tr - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Bé H1 -Chức vụ Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần BV - Chi nhánh TG.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Bé H1: Chị Nguyễn Ngọc Tuyết N – Chuyên viên xử lý nợ (có mặt).

Địa chỉ: 21-23-25, Lê Văn Duyệt, phường 1, thành phố M, tỉnh TG

2.Bị đơn: Ông Lê Chí B, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ: 121D, ấp Bình T, xã Bình P, thành phố B, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 06 tháng 5 năm 2015 Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) BV và ông Lê Chí B có ký hợp đồng tín dụng. Ông B vay của ngân hàng số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng, lãi suất trong hạn 14,4%/năm, lãi suất phạt quá hạn là 150% lãi suất vay trong hạn, mục đích vay tiêu dùng phục vụ đời sống, biện pháp bảo đảm tiền vay tín chấp.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông B đã vi phạm quy định về thanh toán tiền gốc, lãi cho ngân hàng. Tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2018, ông B đã trả cho ngân hàng số tiền vốn là 38.888.892 đồng, vốn còn phải trả là 161.111.108 đồng, lãi trong hạn là 27.941.543 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 11.657.995 đồng, quá hạn là 52.066.670 đồng.

Nay ngân hàng yêu cầu ông Lê Chí B phải trả cho ngân hàng thương mại cổ phần BV số tiền vốn và lãi tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2018 như đã nêu trên, đồng thời tính lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết từ ngày 01/9/2018 đến khi xong nợ.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Chí B đã thay đổi nơi cư trú và không đến Tòa án, đồng thời không có gửi văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Chí B vắng mặt, Tòa án đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông vẫn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông B theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngân hàng thương mại cổ phần BV khởi kiện yêu cầu ông Lê Chí B có nghĩa vụ trả tiền vay còn nợ, vì vậy đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự.

Ông Lê Chí B có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) BV chi nhánh TG vào ngày 06/5/2015. Ông B vay của ngân hàng số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng, lãi suất vay 14,4%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, hình thức trả gốc và lãi vào ngày 10 hàng tháng. Quá trìnhthực hiện hợp đồng, ông B chỉ trả cho ngân hàng số tiền vốn là 38.888.892 đồng, sau đó không trả vốn và lãi cho ngân hàng theo hợp đồng đã ký kết. Theo Ngân hàng thì số tiền nợ tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2018 ông B còn nợ là 252.777.316 đồng, trong đó vốn gốc là 161.111.108 đồng, lãi trong hạn là 27.941.543 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 11.657.995 đồng, lãi và lãi phạt chậm trả vốn là 52.066.670 đồng.

Nhận thấy Ngân hàng Thương mại cổ phần BV đã thực hiện đầy đủ của bên cho vay theo quy định tại Điều 465 Bộ luật dân sự nhưng ông B không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự, đồng thời ông đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho ngân hàng biết, do đó việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông B trả nợ vốn và lãi đến ngày 06 tháng 9 năm 2018 là có căn cứ. Tuy nhiên, đối với khoản tiền lãi phạt chậm trả lãi là 11.657.995 đồng ngân hàng yêu cầu ông B trả là không có căn cứ. Vì trong hợp đồng đã ký kết giữa các bên không có điều khoản nào quy định về vấn đề này, đồng thời yêu cầu này cũng không đúng theo quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự và khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Các yêu cầu khác của ngân hàng được chấp nhận, cụ thể ông B phải trả cho ngân hàng BV các khoản tiền gồm: tiền vốn gốc chưa thanh toán, lãi trong hạn và lãi quá hạn tổng cộng là 241.119.321 đồng.

Do vi phạm nghĩa vụ nên ông B phải chịu án phí DSST theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phía Tòa án là: 241.119.321 đồng x 5% = 12.055.966 đồng. Ngân hàng TMCP BV phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là: 11.657.995 đồng x 5% = 582.899 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần BV.

Buộc ông Lê Chí B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần BV số tiền nợ tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2018 là : 241.119.321 đ (Hai trăm bốn mốt triệu một trăm mười chín nghìn ba trăm hai mốt đồng), trong đó vốn gốc là 161.111.108 đ (Một trăm sáu mốt triệu một trăm mười một nghìn một trăm lẽ tám đồng), lãi trong hạn là 27.941.543 đ (Hai mươi bảy triệu chín trăm bốn mốt nghìn năm trăm bốn ba đồng), lãi quá hạn là 52.066.670 đ (Năm mươi hai triệu sáu mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi đồng).

Trường hợp ông Lê Chí B không trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần BV số tiền trên thì ông B còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0033/031/2015/CBNVLK-06 ngày 06 tháng 5 năm 2015 được ký kết giữa ông B với Ngân hàng thương mại cổ phần BV , chi nhánh Tiền Giang tính từ ngày 01 tháng 9 năm 2018 đến khi trả xong nợ .

2.Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần BV về việc buộc ông Lê Chí B phải trả số tiền lãi phạt chậm trả lãi là 11.657.995 đ (Mười một triệu sáu trăm năm bảy nghìn chí trăm chín lăm đồng).

3.Về án phí:

-Buộc ông Lê Chí B phải chịu án phí DSST có giá ngạch là 12.055.966 đ (Mười hai triệu năm mươi lăm nghìn chín trăm sáu sáu đồng).

-Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần BV phải chịu số tiền án phí là 582.899 đ (Năm trăm tám hai nghìn tám trăm chín chín đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.960.629 đ (Năm triệu chín trăm sáu mươi nghìn sáu trăm hai chín đồng) theo biên lai thu số 0012321 ngày 23/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Ngân hàng thương mại cổ phần BV được nhận lại số tiền chênh lệch là 5.377.730 đ (Năm triệu ba trăm bảy bảy nghìn bảy trăm ba mươi đồng) theo biên lai thu nêu trên.

4.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ