vanban.org

Bản án 76/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
THAØNH PHOÁ QUAÛNG NGAÕI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÆNH QUAÛNG NGAÕI
Bản án số: 76/2018/DS-ST
Ngày: 29-11-2018
V/v tranh chaáp nghĩa vụ
thanh toán trong hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ QUAÛNG NGAÕI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phân Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Dũng

2. Ông Nguyễn Văn Tấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 320/2018/TLST-DS ngày 10/9/2018 về tranh chấp nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2018/QĐXX-ST ngày 29/10/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 166/2018/QĐST – DS ngày 13/11/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.

Địa chỉ: Đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Thị Thúy K – Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần N, chi nhánh Quảng Ngãi.

Bà Phạm Thị Thúy K ủy quyền lại cho: Bà Tạ Ý G – Phó Trưởng phòng khách hàng bán lẻ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N, chi nhánh Quảng Ngãi. Theo văn bản ủy quyền số: 26/UQ-NHNT.QNg ngày 24 tháng 7 năm 2018.

2. Bị đơn: Chị Phạm Thị Lệ H, sinh năm 1979

Địa chỉ cư trú: Đường T, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Bà G có mặt, chị H vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/8/2018, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Ngày 07/02/2013 Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng), chi nhánh Quảng Ngãi ký hợp đồng tín dụng số 0870/13/KHTN.QNg đồng ý cho chị H vay số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất cho vay trung hạn, điều chỉnh 3 tháng/lần theo thông báo lãi suất của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Lãi suất cho vay được xác định và ghi trên giấy nhận nợ tại từng thời điểm nhận nợ, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, thời hạn vay 36 tháng, phương thức trả nợ trả vốn và lãi vào ngày nhận lương và chậm nhất là ngày 30 hàng tháng, số tiền gốc phải trả từ tháng 01 đến tháng 35 là 1.120.000 đồng/tháng, tháng cuối cùng là 800.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, hình thức vay tín chấp áp dụng đối tượng vay là cán bộ, công nhân viên chức. Ngân hàng đã giải ngân cho chị H nhận số tiền 40.000.000 đồng theo giấy nhận nợ chị H đã ký ngày 07/02/2013. Chị H cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích, chịu trách nhiệm trả nợ theo hợp đồng đã ký với Ngân hàng. Quá trình vay chị H đã trả nợ được tổng cộng gốc và lãi là 27.803.805 đồng (từ ngày 07/02/2013 đến ngày 30/12/2014, gốc 21.380.000 đồng, lãi 6.423.805 đồng ), từ tháng 01/2015 đến nay chị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần lập biên bản làm việc, nhắc nhở việc nợ quá hạn. Nay Ngân hàng yêu cầu chị H phải trả cho Ngân hàng số tiền 30.281.517 đồng, trong đó nợ gốc là 18.620.000 đồng, lãi trong hạn 8.093.659 đồng, lãi quá hạn 3.567.858 đồng (tiền lãi tạm tính đến ngày 28/11/2018) và tiền lãi suất phát sinh kể từ ngày 29/11/2018 cho đến khi trả xong các khoản nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Bị đơn chị Phạm Thị Lệ H không có văn bản trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều đúng theo qui định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý, về quan hệ pháp luật tranh chấp, về tư cách những người tham gia tố tụng, về thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu và tống đạt các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng, về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng hạn theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng, các điều 471, 474, 476 của Bộ luật dân sự năm 2005, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N, buộc chị Phạm Thị Lệ H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 30.281.517 đồng, trong đó nợ gốc là 18.620.000 đồng, lãi trong hạn 8.093.659 đồng, lãi quá hạn 3.567.858 đồng (tiền lãi tạm tính đến hết ngày 28/11/2018) và lãi suất phát sinh kể từ ngày 29/11/2018 cho đến khi trả nợ xong. Về án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ váo kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Phạm Thị Lệ H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H.

Về nội dung: Theo hợp đồng tín dụng số 0870/13/KHTN.QNg, giấy nhận nợ vào ngày 07/02/2018 chị Phạm Thị Lệ H đã vay Ngân hàng Thương mại Cổ phần N, chi nhánh Quảng Ngãi số tiền 40.000.000 đồng theo hình thức trả tiền gốc, lãi hàng tháng. Từ tháng 01/2015 chị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng, chị H còn nợ Ngân hàng số tiền 30.281.517 đồng, trong đó nợ gốc là 18.620.000 đồng, lãi trong hạn 8.093.659 đồng, lãi quá hạn 3.567.858 đồng (tiền lãi tạm tính đến ngày 28/11/2018).

Chị Phạm Thị Lệ H đã được Tòa án cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho chị theo đúng qui định pháp luật, nhưng chị H không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không nộp tài liệu chứng cứ gì, không đến Tòa án để làm việc, hòa giải, không đến phiên tòa để trình bày. Do đó, căn cứ các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Phạm Thị Lệ H phải trả cho Ngân hàng số tiền 30.281.517 đồng, trong đó nợ gốc là 18.620.000 đồng, lãi trong hạn 8.093.659 đồng, lãi quá hạn 3.567.858 đồng (tiền lãi tạm tính đến ngày 28/11/2018) và lãi suất phát sinh kể từ ngày 29/11/2018 theo lãi suất đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi trả nợ xong cho Ngân hàng là phù hợp theo qui định tại các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi về thủ tục tố tụng và nội dung là phù hợp với nhận định đã nêu của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của y ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Phạm Thị Lệ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.514.075 đồng {5% x 30.281.517 đồng}.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Vì caùc leõ treân,

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ vào các điều 26, 144, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228, 266, 271, 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của y ban Thường vụ Quốc hội. Tuyeân xöû:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N: Buộc chị Phạm Thị Lệ H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền 30.281.517 đồng (Ba mươi triệu hai trăm tám mốt ngàn năm trăm mười bảy đồng), trong đó nợ gốc là 18.620.000 đồng, lãi trong hạn 8.093.659 đồng, lãi quá hạn 3.567.858 đồng (tiền lãi tạm tính đến ngày 28/11/2018) cùng tiền lãi phát sinh kể từ ngày 29/11/2018 cho đến khi trả xong các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 0870/13/KHTN.QNg ngày 07/02/2013.

2/ Chị Phạm Thị Lệ H phaûi chịu 1.514.075 đồng (Một triệu, năm trăm mười bốn ngàn, không trăm bảy lăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 729.000 đồng (Bảy trăm hai mươi chín ngàn đồng) theo bieân lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án soá AA/2016/0003615 ngày 06/9/2018 cuûa Chi cuïc Thi haønh aùn daân söï thaønh phoá Quaûng Ngaõi.

3/ Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với chị Phạm Thị Lệ H vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ