- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đình M tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ-TỈNH HẢDƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2017/HSST Ngày: 01/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tân.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Hải.
2. Ông Vũ Đình Đồng.
Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Linh - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở UBND xã QP, huyện TK, tỉnh Hải Dƣơng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 77/2017/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình M, sinh năm 1980, nơi sinh và nơi cƣ trú: Thôn Ngh Kh, xã TK, huyện TK, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 2/12; con ông T (đã chết) và bà G (đã chết), có vợ H và 01 con; tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/10/2017 đến ngày 27/10/2017 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng, theo Lệnh tạm giam số 58/LTG ngày 27/10/2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tứ Kỳ. Có mặt.
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 24/10/2017, Nguyễn Đình M đi bộ từ nhà ở thôn Ngh Kh, xã TK, huyện TK, tỉnh Hải Dƣơng đến thôn Đ Tr, xã Q Ph, huyện TK, tỉnh Hải Dƣơng gặp một ngƣời đàn ông không quen biết tên, tuổi, địa chỉ và mua của ngƣời đàn ông này 01 gói giấy màu trắng, kích thƣớc 1,5cmx2,5cm bên trong chứa chất bột, dạng cục, màu trắng (M biết đó là Heroin) với giá 95.000đ nhằm mục đích để sử dụng cá nhân. Sau khi mua xong, M cầm trên tay và đi trên trục đƣờng 191B thuộc thôn ĐTr, xã Q Ph, huyện T K, tỉnh Hải Dƣơng thì bị phát hiện bắt quả tang. Vụ án đƣợc điều tra làm rõ.
Về vật chứng: M tự giác giao nộp 01 gói giấy màu trắng, kích thƣớc 1,5cm x 2,5 cm, bên trong chứa chất bột, dạng cục, màu trắng.
Tại kết luận giám định số 428/KLGĐ-PC45 ngày25/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng ghi thủ của Nguyễn Đình M gửi đến giám định có trọng lƣợng là 0,137 g (Không phẩy một trăm ba mƣơi bảy gam), là loại Heroin. Hoàn lại đối tƣợng giám định gồm 0,079g (không phẩy không trăm bảy mƣơi chín gam) Heroin đƣợc đựng trong phong bì niêm phong số 428/KLGĐ-PC54.
Tại bản cáo trạng số 70/VKS - HS ngày 15/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Đình M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật Hình sự. Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình M từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ. Về hình phạt bổ sung: Không. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,079 gam Heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì dán kín, niêm phong. Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nhƣ: Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, biên bản quản lý và niêm phong vật chứng, kết luận giám định... Nhƣ vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận. Khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 24/10/2017, tại trục đƣờng 191B thuộc thôn Đ Tr, xã Q Ph, huyện TK, tỉnh Hải Dƣơng, Nguyễn Đình M có hành vi cất giấu trái phép 0,137 gam Heroin nhằm mục đích sử dụng cá nhân thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,137gam Heroin nhằm mục đích sử dụng cá nhân, nên việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết nhằm giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội đạt hiệu quả.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, nhƣ vậy mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành ngƣời có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt tù nhẹ hơn mức hình phạt tù của tội này theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009. Căn cứ khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV về việc thi hành Bộ luật hình sự 2015 xét thấy đây là quy định mới có lợi cho ngƣời phạm tội nên HĐXX sẽ áp dụng để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản riêng. Do vậy, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số Heroin hoàn lại sau giám định có trọng lƣợng 0,079 gam đựng trong phong bì dán kín, niêm phong. HĐXX xét thấy đây là vật cấm lƣu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy. Nhƣ vậy là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 41 của Bộ luật hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đối với ngƣời đã bán Heroin cho M không xác định đƣợc tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tứ Kỳ không có căn cứ xử lý, do vậy HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV về việc thi hành Bộ luật hình sự 2015; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử: Bị cáo Nguyễn Đình M 13 (Mƣời ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/10/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử: Tịch thu tiêu hủy 0,079 gam Heroin là mẫu vật hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong bì thƣ dán kín có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Hải Dƣơng số 428/KLGĐ-PC54.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/11/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Bị cáo Nguyễn Đình M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mƣời lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận - VKSND huyện Tứ Kỳ, -CQCSĐT-CA huyện Tứ Kỳ, -Chi cục T.H.A dân sự huyện Tứ Kỳ, -Sở tư pháp Hải Dương, -Bị cáo, -Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Minh Tân |