- Tranh chấp gì? án hình sự — "Khuu Minh D phạm tôi Cươp giật tàisản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật h ình sự; Bộ luật Tố tụng h ình sự; Điều 1 Bộ luật h ình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU TH ÀNH TỈNH KI ÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 76/2017/HSST Ngày 13/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG H
ÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU TH ÀNH, TỈNH KI ÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử s
ơ th ẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ T ọa phi ên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Võ Hoàng Ân
2/ Ông Đặng Hữu Tâm
- Thư k ý ghi biên bản phi ên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang
– Thư k ý Tòa án nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th
ành tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát vi ên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở
Ủy ban nhân dân x ã Minh Hòa, huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang xét xử cô ng khai sơ th ẩm vụ án h ình sự thụ lý số : 63/2017/HSST ngày 20 tháng 10 năm 2017, về tội “Cướp giật tài sản ” theo Quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số
: 88/QĐXX-ST ngày 22 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Khưu Minh D ; sinh năm 1984; HKTT: ấ p PD B, thị trấn LHT, huyện TĐ, tỉnh ST; Chỗ ở hiệ
n nay: Không nơi cư trú nhất định
; Trình độ văn hóa: Không biết chữ ; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Na m; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Khưu Th ; sinh năm 1948 và bà Mai Thị N; sinh năm 1951; Tiền sự : Không.
Tiền án có 01 tiền án: Vào ngày 15/8/2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận TB, thành phố HCM xử phạt 02 (hai) năm tù, về tội “C ư ớp giật t ài sản ” tại bản án số : 203/2013/HSST ngày 15/8/2013.
Bị cáo bị bắt tạm giữ
, tạm giam từ ngày 29/8/2017 cho đế n nay, (có mặt)
Ngư ời bị hại : Anh Lâm Hán C; sinh năm 1981 (vắng mặt)
Trú tại: ấp AB, xã BA, huyện CT, tỉnh Kiên Giang.
Người có quyền lợi
, nghĩa vụ liên quan :
1/ Chị Ngô Mỹ D 1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Trú tại : ấp AB, xã BA, huyện CT, tỉnh Ki ên Giang
2/ Ông Khưu Th, sinh năm 1948 (vắng mặt)
Trú tại : ấ p PD B, TT. LHT, huyện TĐ, tỉnh ST
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án và diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đ ư ợc tóm tắt nh ư sau:
Vào 09 giờ , ngày 21/12/2014 Khưu Minh D điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Ariblade m àu đỏ - đen, mang biển kiểm soát 83 P1 – 148.14 (xe của ông Kh ưu Th là cha ru ột của D đứng t
ên sở hữu) đến cửa h
àng điện thoại của anh Lâm Hán C, th ư ờng trú tại ấp AB, xã BA, huyện CT, tỉnh Ki ên Giang giả vờ hỏi mua điện thoại Iphone 4S đ
ã qua sử dụng. Khi anh C lấy điện thoại Iphone 4S m àu đen của vợ anh C t ên Ngô Mỹ D 1 cho D xem, lợi dụng lúc anh C không chú ý, D liền cầm điện thoại bỏ chạy ra xe v
à lên xe tẩu thoát. Sau đó, đến khoảng 13 giờ c ùng ngày D đem điện thoại đến cửa h
àng điện thoại anh L ư Tu ấn K ở số 143,
NQ, Khu phố 2, ph ư ờng VB, thành phố Rạch Giá, tỉnh Ki ên Giang bán nhưng anh K tr ả giá thấp n ên D không bán, Dtiếp tục chạy đi bán cho một ng ư ời lạ đi đ ư ờng với giá 1.500.000 đồng ti
êu xài cá nh ân.
Tại Bản Kết luận về việc định giá t
ài sản trong tố tụng h ình sự số:
12 ngày 17 tháng 3 năm 2015 của Hội đồng định giá t
ài sản trong tố tụng h
ình sự của Ủy ban nhân dân huyện Châu Th
ành, tỉnh Ki ên Giang thể hiện:
01 điện thoại di động Iphone 4S, 8Gh, m àu đen đã qua sử dụng giá 3.500.000
Về vật chứng thu giữ trong vụ án:
- 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Ariblade m àu đỏ - đen, số máy JF27E – 0708323, số khung 2700BY21881, biển số 83P1
– 148.14 đã trả lại cho ông Khưu Th là ch ủ sở hữu
- 01 nón bảo hiểm m àu xanh; 01 áo khoác nam màu xanh; 01 đôi dép lào màu vàng.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra
ông Khưu Minh Th là cha ruột của bị c áo D đã bồi th ư ờng cho anh C số tiền 3.500.000 đồng nên anh C không yêu cầu bồi th ư ờng g ì thêm nên không xem xét
Tại bản cáo trạng số : 68/CTr- VKS ngày 18/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Ki ên Giang đã truy tố bị cáo Khưu Minh D về tội : “Cướp giật
tài sản ” theo khoản 1 Điều 1 36 BLHS.
Tại phi ên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị
cáo Khưu Minh D phạm tội: “Cướp giật
tài sản ” và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 13 6; điểm b, p khoản 1 Điều 46 ; điểm g khoản 1 Điều 48 và Điều 33 BLHS, xử phạt b
ị cáo Khưu Minh D từ 15 đến 18 tháng tù.
Về bi ện pháp t ư pháp đề nghị HĐXX áp dụng Điều 4 1 BLHS và khoản 2 Điều 76 BLTTHS xử t rả lại cho Kh ưu Minh D 01 nón bảo hiểm m àu xanh, 01 áo khoác nam màu xanh và 01 đôi dép lào màu vàng.
Bị c áo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân huyện Châu Th ành.
Bị cáo đ ư ợc nói lời nói sau c ùng , bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ h ình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc thẩm tra, xét hỏi, tran
h luận tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy nh ư sau:
- Về h ành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan đi ều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra vi ên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th ành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ ã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr
ình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng h
ình sự . Quá trình điều tra v à tại phi ên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về h
ành vi, quyết định của C ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng. Do đó, các h ành vi , quyết định tố tụng của C
ơ quan tiền h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phi ên tòa, bị cáo đ ã thừa nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của
mình như b ản Cáo trạng đ ã nêu, lời khai của bị cáo
phù hợp với lời khai tại C ơ qua n điều tra và phù hợp với các tài liệu , chứng cứ khác có trong hồ s
ơ, th ể hiện : Vào khoảng 09 giờ, ng ày 21/12/2014 Khư u Minh D điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Ariblade m àu đỏ - đen, mang biển số kiểm soát 83 P1 – 148.14 đến cửa hàng điện thoại c ủa anh Lâm Hán C trú tại ấp AB, xã BA, huyện CT giả vờ hỏi mua điện thoại Iphone 4S đ ã qua sử dụng , khi anh C lấy điện thoại đ ưa cho D xem lợi dụng lúc anh C không chú ý D liền giật điện thoại rồi l ên xe chạy đi. Theo kết quả định giá tài sản thì chiếc điện thoại m à D chiếm đoạt của anh C có giá trị l à 3.500.000 đồng . Đối chiếu theo quy định t ại khoản 1 Điều 13 6 Bộ luật hình sự thì “Ngư ời n ào cư ớp giật t ài sản của ng ư ời khác, th ì bị phạt t ù từ một năm đến năm năm” như v ậy hành vi giả vờ mua điện th
oại rồi lợi dụng lúc bị hại sở hở nhanh tay giật điện thoại bỏ chạy
của bị cáo đã đủ yếu tố cấu th
ành tội “ Cướp giật tài sản ”.
Xét hành vi phạm tội của
bị cáo l à nguy hiểm cho x ã hội , bởi b ị cáo đ ã đủ năng lực nhận thức đ
ư ợc “Cướp
giật tài sản” l à hành vi vi phạm pháp luật . Thế nhưng ch ỉ v ì tham lam chay lư ời lao động mà muốn có tiền ti êu xài cá nhân, bị cáo liền nghỉ ra kế hoạch giả vờ hỏi mua điện thoại rồi lợi dụng
lúc bị hại s ơ h ở bị cáo liền giật lấy điện thoại đem đi bán. Trong vụ án n ày cho thấy, b ị cáo thực hiện hành vi phạm tội giữa ban ngày điều này thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và
xem thường pháp luật
. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đ
ã xâm phạm trực tiếp đến t ài sản hợp pháp của ng ư ời bị hại m à còn tạo tâm lý bất an cho ngư ời dân, làm mất an ninh trật tự tại địa phương xảy ra vụ án
. Ngoài ra cho thấy s au khi thực hiện h ành vi phạm tội bị cáo đ ã bỏ trốn khỏi địa ph
ương gây c ản trở, khó khăn cho việc điều tra giải quyết vụ án.
Do đó, HĐXX nghị án thảo luận cần có mức á
n nghiêm và cầ n tách ly bị cáo ra khỏi đời sống x
ã hội một thời gian để răn đe
, giáo dục v à phòng ngừa chung cho x ã hội.
- Xét về t ình tiết tăng nặng: Vào ngày 15/8/2013 bản thân bị cáo bị T òa án nhân dân quận TB, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù, về tội “Cư ớp giật t ài sản”, sau khi m ãn hạn t ù chưa đ ầy 07 tháng bị cáo lại tiếp tục
có hành vi phạm tội mới
cũng với thủ đoạn “Cư ớp giật t ài sản” . Do đó, trong lần phạm tội
này bị cáo bị áp dụng th êm 01 tình tiết tăng nặng l à tái phạm đ ư ợc quy định t ại điểm g khoản 1 Điều 48
- Xét về t ình tiết giảm nhẹ
: Tại phiên Tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo , sau khi phạm tội bị cáo đã tích cực động viên gia đình bồi thường
toàn bộ thiệt hại cho anh C nên cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm n hẹ cho bị cáo đ ư ợc quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật h ình sự, sẽ xem xét h ình phạt khi l ư ợng h ình để có mức án ph ù hợp nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo chở th
ành một công d ân tốt sống có ích cho gia đ ình và xã hội, đồng thời cũng
nhằm thể hiện
chính sách khoan hồng của Đảng v à Nhà nư ớc.
- Xét đề nghị của vị đại diện
Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng nh ư vi ệc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án l
à có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để x em xét.
- Về trách nhiệm dân sự:
6.1 Do sau khi vụ án bị phát hiện bị cáo đ
ã tích cực động vi ên gia đình khắc phục xong số tiền 3.500.000
đồng cho ngư ời bị hại anh
Lâm Hán C nên anh C không yêu cầu bị cáo phải bồi th
ư ờng gì thêm nên HĐXX không xem xét.
6.2 Đối với ng ư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li
ên quan ông Khưu Th và ch ị Ngô Mỹ D 1 không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
- Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng
:
7.1 Đối với chiếc xe môtô nh ãn hiệu Honda loại Ariblade m àu đỏ - đen mang biển số 83P1 – 148.14 đây là phương ti ện bị cáo sữ dụn
g để thực hiện h ành vi phạm tội. T rong quá trình điều tra đ ã chứng minh đ ư ợc chiếc xe n ày là của ông Kh ưu Th cho bị cáo m ư ợn, việc bị cáo lấy chiếc xe tr
ên để l àm phương ti ện phạm tội ông Th không hề hay biết. Do ông Th không có lỗi n ên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Th ành đã xử lý trả lại chiếc xe tr
ên cho ông Th. Xét việc trao trả t ài sản trên là phù hợp với quy định pháp luật n ên HĐXX không xem xét.
7.2 Đối với 01 nón bảo hiểm m àu xanh; 01 áo khoác nam màu xanh và 01 đôi dép lào màu vàng, đây là các tài sản không li ên quan đên việc phạm tội
nên căn cứ v ào điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS v à khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Khưu Minh D là phù h ợp.
- Về án phí: Xử buộc
bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾ T ĐỊNH :
Tuyên bố b ị cáo Khưu Minh D phạm tội: “ Cướp giật
tài sản ”. Áp dụng khoản 1 Điều 1 36; điểm b, p khoản 1 Điều 46 ; điểm g khoản 1 Điều 48
và Điều 33 Bộ luật h ình sự , xử phạt bị cáo Khưu Minh D 15 (mư ời lăm) tháng tù. Thời điểm chấp h ành hình phạt t ù đư ợc tính kể từ ng
ày 29/8/2017.
Về biện pháp t ư pháp áp d ụng khoản 1 Điều 4 1 Bộ luật h ình sự và khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng h
ình sự trả lại cho bị cáo Khưu M
inh D 01 nón bả o hiểm màu xanh, 01 áo khoác nam màu xanh và 01 đôi dép lào màu vàng
Vật chứng tr ên hiện Chi cục Thi h ành án dân sự huyện Châu Th ành đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số:
41/QĐCGVC ngày 16/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch âu Thành, tỉnh Ki ên Giang.
Về áp phí áp dụng khoản 2
Điều 99 BLTTHS và Điều 2 3 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử buộc bị cáo
Khưu Minh D phải nộ p 200.000 đồng tiền án phí Hình sự s ơ thẩm.
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng ày kể từ ngày tuyên án sơ th ẩm. Báo cho người bị hại v à ngư ời có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phi ên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng ày, kể từ ng ày nhận đ ư ợc bản ản hoặc ni
êm yết bản án.
Nơi nh ận :
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S
Ơ TH ẨM
- TAND tỉnh Ki ên Giang;
| - Sở t ư pháp t ỉnh Ki ên Giang; - VKSND huyện Châu Th ành; - Công An huyện Châu Th ành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Bị cáo, bị hại v à NLQ; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ Tọa phi ên Tòa Nguyễn Thanh Phong |