vanban.org

Bản án 76/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án,

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà TTNH đối với bà MHO. Buộc bà MHO phải có nghĩa vụ trả cho bà TTNH 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án dân sự giữa nguyên đơn bà TTNH với bị đơn bà MHO"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án,
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2017/DS-ST
Ngày: 07-11-2017.
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bích Huế.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Văn Nô;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hương Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 150/2017/TLST-DS ngày 06/6/2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2017/QĐXX-DS ngày 25 tháng 9 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà TTNH, sinh năm 1963; địa chỉ: Số 75, tổ 4, khu phố HK, phường K, thị xã T U, tỉnh B D. Có mặt.

- Bị đơn: Bà MHO; địa chỉ: Tổ 2, khu phố LK, phường K, thị xã T U, tỉnh B D. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/5/2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà TTNH trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết với bà O nên ngày 14/5/2013, bà O hỏi mượn bà H 50.000.000 đồng, bà O hứa 06 tháng sẽ trả. Ngày 14/5/2013, khi bà H giao tiền cho bà O thì bà O viết Giấy mượn tiền bà H. Sau 06 tháng, bà O không trả tiền do làm ăn thua lỗ. Vì là chỗ bạn bè quen biết nên bà H cho bà O nợ. Ngày 28/10/2015, bà H cho bà O mượn thêm 50.000.000 đồng để lấy vốn làm ăn. Bà O hứa 01 tháng sau sẽ bán nhà trả nợ cho bà H. Tuy nhiên, từ đó đến nay, bà O không trả nên bà H khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà O trả 100.000.000 đồng nợ gốc, không yêu cầu trả lãi.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là 02 Giấy mượn tiền ngày 14/5/2013 và 28/10/2015 có chữ ký tên MHO.

Bị đơn bà MHO đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, tống đạt thông báo và giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải lúc 08 giờ ngày 03/7/2017 và 13 giờ 30 phút ngày 03/8/2017; triệu tập đến Toà án để lấy lời khai, làm việc về giám định chữ viết chữ ký trong 2 giấy mượn tiền do nguyên đơn cung cấp và tham gia đối chất lúc 15 giờ ngày 03/8/2017 và 14 giờ ngày 08/9/2017; đã được tống đạt Kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; triệu tập tham gia phiên toà lúc 07 giờ 30 phút ngày 12/10/2017 và 08 giờ ngày 07/11/2017. Các văn bản tố tụng này đều đã được tống đạt trực tiếp nhưng bà O vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn thanh toán 50.000.000 đồng của khoản vay ngày 28/10/2015 là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận; đối với khoản vay 50.000.000 đồng ngày 14/5/2013 do không thể hiện bà O nợ của ai nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận phần yêu cầu này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn bà MHO đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải 2 lần; đối chất 2 lần; lấy lời khai 2 lần và tham gia phiên toà 2 lần nhưng vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc bà O không đến Tòa án là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình tại Tòa án. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn bà MHO.

. Về nội dung: Tại 02 Giấy mượn tiền không đề ngày có nội dung “MHO có mượn tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) vào ngày 14/5/2013” và “MHO có mượn cô H một số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi tiệu đồng) vào ngày 28/10/2015”, 02 Giấy mượn tiền có chữ ký tên MHO. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã tống đạt trực tiếp các văn bản để triệu tập bà O đến Toà án để lấy lời khai làm rõ ý kiến của bà O đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, hoà giải, đối chất, họp tiếp cận công khai chứng cứ nhưng bà O vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Toà án căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết.

Xét thấy, hai giấy mượn tiền này thể hiện bà O là người mượn tiền với khoản tiền 2 lần là 100.000.000 đồng. Mặc dù giấy mượn tiền ghi mượn tiền ngày 14/5/2013 không thể hiện rõ là bà O mượn của ai nhưng bà H là người giữ bản chính giấy mượn tiền, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà O đến Tòa án để lấy lời khai làm rõ nội dung giấy mượn tiền, đối chất, hòa giải và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, bà O đã trực tiếp nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa và cũng không nêu lý do. Xem như bị đơn không phản đối với các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên có cơ sở xác định bà O mượn của bà H tổng cộng 100.000.000 đồng. Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà O trả nợ gốc 100.000.000 đồng là có cơ sở theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với tiền lãi do bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản vay 50.000.000 đồng ngày 28/10/2015 là có cơ sở chấp nhận nhưng đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản vay 50.000.000 đồng ngày 14/5/2013 là không có cơ sở chấp nhận.

. Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà TTNH đối với bà MHO.

2. Buộc bà MHO phải có nghĩa vụ trả cho bà TTNH 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thanh toán, tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà MHO phải nộp 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

Hoàn lại cho bà TTNH 1.250.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2014/0013484 ngày 31/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên.

Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ