vanban.org

Bản án 757/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị C được ly hôn với ông Đinh Lê Hoàng Th (Giấy chứng nhận kết hôn số 87 do Ủy ban nhân dân Phường 11, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/11/2011).

Về con chung: Giao cho bà Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đinh Hoàng Q sinh ngày 17/7/2012. Ghi nhận việc bà C không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, ông Đinh Lê Hoàng Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị C - Đinh Lê Hoàng Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị C được ly hôn với ông Đinh Lê Hoàng Th (Giấy chứng nhận kết hôn số 87 do Ủy ban nhân dân Phường 11, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/11/2011).
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 757/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thái Thục Hiền

2. Ông Đoàn Văn Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2023 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 244/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1987

Địa chỉ: số 119 RLĐ, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Đinh Lê Hoàng Th, sinh năm 1986

Địa chỉ: số 224 Lô F chung cư HP, Phường K, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 15/8/2022 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – Bà Lê Thị C trình bày: Bà và ông Đinh Lê Hoàng Th chung sống từ năm 2009, có đăng ký kết hôn trễ hạn vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân Phường 11, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông Th thường xuyên uống rượu, có hành vi chửi mắng, xúc phạm đến thân thể của bà C. Hai bên đã nhiều lần trao đổi, giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn từ năm 2016 do ông Th thường xuyên gây áp lực về tinh thần cũng như sức khỏe của bà C. Do không thể tiếp tục chung sống nên cả hai đã không còn sống chung từ năm 2017 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, gia đình không hạnh phúc không thể tiếp tục cuộc sống chung nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đinh Lê Hoàng Th. Về con chung: Bà và ông Th có 01 con chung tên Đinh Hoàng Q sinh ngày 17/7/2012. Do con chung chưa thành niên và đang sống cùng với bà nên sau khi ly hôn bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Q, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông Th không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông Th không đến Tòa án theo giấy triệu tập và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà C nên Tòa án không thể thu thập được lời khai của ông Th. Tại phiên tòa, Nguyên đơn - Bà Lê Thị C có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa Bị đơn – Ông Đinh Lê Hoàng Th vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị C và ông Đinh Lê Hoàng Th có đăng ký kết hôn, bà C yêu cầu ly hôn với ông Th, xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn”. Hiện nay, bị đơn là ông Đinh Lê Hoàng Th hiện đang cư trú tại Quận 8 (Theo kết quả xác minh của Công an Phường 10, Quận 8) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn Bà Lê Thị C có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà C.

Bị đơn ông Đinh Lê Hoàng Th, Tòa án đã triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng ông Th vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông Th.

Về yêu cầu của các đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Trích lục kết hôn số 139/TLKH-BS ngày 13/6/2022 của Ủy ban nhân dân Phường 11, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, cùng lời khai của bà C về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà C và ông Th là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà C: Trong quá trình chung sống, bà C và ông Th xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về vấn đề tình cảm và nhiều vấn đề trong cuộc sống chung, không có sự cảm thông, chia sẻ với nhau. Hai bên đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn, tìm tiếng nói chung nhưng không đạt được kết quả mà tình trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn phát sinh từ rất lâu, không thể giải quyết nên đã sống ly thân từ năm 2017, bà C xác định vợ chồng không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân với ông Th.

Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích trên cơ sở yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình, đồng thời vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Bà C và ông Th đã không tôn trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập ông Th đến Tòa để trình bày ý kiến tự khai, tổ chức phiên hòa giải để các bên có điều kiện hàn gắn đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông Th không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án mà không có lý do chính đáng. Điều này cho thấy ông Th đã từ bỏ quyền lợi của mình, không muốn hòa giải hàn gắn đoàn tụ gia đình. Do đó, việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Bà C và ông Th có 01 con chung tên Đinh Hoàng Q sinh ngày 17/7/2012. Do con chung chưa thành niên và đang sống cùng với bà; bà C có công việc ổn định đủ điều kiện để chăm sóc con nên sau khi ly hôn bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Q, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng là căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Hơn nữa, trong suốt quá trình tố tụng ông Th không có bất kỳ ý kiến nào phản hồi về yêu cầu nuôi con của bà C. Do đó, việc giao trẻ Đinh Hoàng Q cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, đảm bảo quyền lợi cho trẻ và phù hợp với quy định pháp luật tại khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà C không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà C xác định trong thời gian chung sống bà và ông Th không có tài sản chung và cũng không nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà C phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án). Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C về việc xin ly hôn với ông Đinh Lê Hoàng Th.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị C được ly hôn với ông Đinh Lê Hoàng Th (Giấy chứng nhận kết hôn số 87 do Ủy ban nhân dân Phường 11, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/11/2011).

- Về con chung: Giao cho bà Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đinh Hoàng Q sinh ngày 17/7/2012. Ghi nhận việc bà C không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, ông Đinh Lê Hoàng Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc Hội Liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà C xác định bà và ông Th không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) Bà Lê Thị C phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0017980 ngày 10/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị C, ông Đinh Lê Hoàng Th được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ