vanban.org

Bản án 757/2019/KDTM-PT — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/08/2019 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cư khoản 2 Điều 308 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cư Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thương vụ Quốc hôi quy định về án phí lệ phí Tòa án. Căn cư Khoản 2 Điều 468 Bô luật dân sự năm 2015 và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hôi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "tranh chấp hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Căn cư khoản 2 Điều 308 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 757/2019/KDTM-PT
Ngày: 28/8/2019
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài
sản và hợp đồng thuê tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thanh Thủy

Các Thẩm phán:

1. Ông Ngô Văn Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Phong

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thúy Ngân – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23/7/2019, ngày 21/8/2019 và ngày 28/8/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 52/2019/KDTM-PT ngày 05 tháng 3 năm 2019 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng thuê tài sản”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2019/KDTM-ST ngày 28/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2433/2019/QĐPT-KDTM ngày 29 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 4371/2019/QĐ-HPT ngày 25 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty CP TT

Địa chi trụ sở: đương TS, phương LT, quận TD, TP. Hồ Chí Minh.

Ngươi đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

1.1 Ông Hà Phúc T (theo văn bản ủy quyền số 002/GUQ-TT ngày 19/10/2017) (có mặt).

1.2 Ông Nguyên Huy V (theo văn bản ủy quyền số 293/GUQ-TT ngày 29/3/2018) (có mặt ngày 23/7/2019, vắng mặt ngày 21/8/2019 và 28/8/2019).

Cung địa chi liên lạc: đương TS, phương LT, quận TD, TP. Hồ Chí Minh

2. Bị đơn: Công ty TNHH VN

Địa chi trụ sở: đương CL, Phương 11, Quận S, TP. Hồ Chí Minh.

Ngươi đại diện hợp pháp của bị đơn: bà Nguyên Thị Anh Đ ( theo văn bản ủy quyền ngày 24/6/2019) (có mặt).

Địa chi liên lạc: đương LVD, Phương AB, Thành phố BH, tinh Đồng Nai.

Ngươi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Trân Thị HA, sinh năm 1979 – Luật sư công ty Luật TNHH MTV ABP (có mặt).

Địa chi: đương LVD, Phương AB, Thành phố BH, tinh Đồng Nai

3. Người co quyên lơi, nghia vu liên quan:

3.1. Ông Trân Ngọc D

Địa chi thương trú: phương TQ, quận TP, TP. Hồ Chí Minh. (Có mặt ngày 23/7/2019 và ngày 28/8/2019. Vắng mặt ngày 21/8/2019).

3.2 Ông Tô Thanh S

Địa chi thương trú: đương 23/8, Phương T, Thành phố BL, tinh Bạc Liêu; (Có mặt ngày 23/7/2019 và ngày 21/8/2019. Vắng mặt ngày 28/8/2019).

3.3. Ông Võ Nguyên Quốc Tr

Địa chi thương trú: đương ĐTT, phương TQ, quận TP, TP. Hồ Chí Minh. ( có đơn xin vắng mặt lập ngày 21/6/2019).

3.4. Ông Võ Minh H

Địa chi nơi làm việc: đương TS, phương LT, quận TD, TP. Hồ Chí Minh. ( có đơn xin vắng mặt lập ngày 25/6/2019).

4. Người kháng cáo: - Công ty TNHH VN

- Ông Trân Ngọc D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/3/2018 của nguyên đơn là Công ty CP TT và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện của nguyên đơn trinh bày: Năm 2016, Công ty CP TT (sau đây gọi tắt là Công ty TT) và Công ty TNHH VN (sau đây gọi tắt là Công ty VN) có ký kết với nhau các hợp đồng và phụ lục hợp đồng về việc mua bán và cho thuê container như sau:

1. Hợp đồng số: 0162/2016/HDMB-THU ký ngày 04/05/2016 với nôi dung: Công ty TT bán cho Công ty VN 20 container loại cao 40’ với giá là 25.000.000 đồng/cont; Tiền thuế giá trị gia tăng 50.000.000 đồng; tiền vận chuyển, nâng, hạ cont là 56.000.000 đồng /20 cont/lượt đã bao gồm thuế VAT 10%. Tông giá trị hợp đồng là 611.600.000 đồng. Phương thưc thanh toán: ngay khi ký hợp đồng bên mua se thanh toán số tiền 152.900.000 đồng; Ngày 30/5/2016, thanh toán 152.900.000 đồng; Ngày 30/6/2016 thanh toán 152.900.000 đồng ; Ngày 30/7/2016, thanh toán 152.900.000 đồng.

2. Hợp đồng số 0177/2016/HDMB-THU ký ngày 23/05/2016 với nôi dung: Công ty TT bán cho Công ty VN05 container loại cao 10’ với giá 38.000.000 đồng/cont, tiền thuế giá trị gia tăng là 19.000.000 đồng; Tiền vận chuyển, nâng, hạ cont là 12.500.000đ/5cont/lượt đã bao gồm thuế VAT 10%. Tông giá trị hợp đồng là 222.750.000 đồng. Phương thưc thanh toán: ngay khi ký hợp đồng bên mua se thanh toán số tiền 55.687.500 đồng; Ngày 30/5/2016, thanh toán 55.687.500đ; Ngày 30/6/2016 thanh toán 55.687.500 đồng; Ngày 30/7/2016 thanh toán 55.687.500 đồng.

3. Phụ lục hợp đồng số 01-0162/2016/PLHĐ-THU ngày 26/05/2016 với nôi dung: Công ty TT bán cho Công ty VN05 container loại cao 40’ giá là 25.000.000 đồng/cont; Thuế giá trị gia tăng là 12.500.000 đồng; tiền vận chuyển, nâng, hạ cont là 15.000.000 đồng/5cont/lượt đã bao gồm thuế VAT 10%. Tông giá trị hợp đồng là 154.000.000 đồng. Phương thưc thanh toán: Ngày 30/5/2016, thanh toán 51.333.333đ; Ngày 30/6/2016 thanh toán 51.333.333 đồng ; Ngày 30/7/2016 thanh toán 51.333.333đ.

4. Hợp đồng thuê số 0277/2016/HDT-LI ngày 15/04/2016 với nôi dung: Công ty TT cho Công ty VN thuê:

- 01 container văn phòng có WC và máy lạnh loại 40’, giá thuê là 4.620.000 đồng/cont/tháng (đã bao gồm 10% thuế VAT).

- Lắp đặt 01 vách ngăn chia đôi container làm 02 phòng, giá 2.000.000 đồng/tháng, tiền thuế giá trị gia tăng là 200.000đ, tông số tiền lắp đặt là 2.200.000 đồng/cont (đã bao gồm 10% thuế VAT). (Tiền vách ngăn chi tính tháng đâu tiên). Công ty VN phải chịu tiền vận chuyển, nâng, hạ Cont đến Thành phố Thủ Dâu Môt, tinh Binh Dương là 4.700.000 đồng/cont/lượt, thuế VAT 10% là 470.000 đồng. Phương thưc thanh toán: ngay khi ký hợp đồng là 11.990.000đ; Tư tháng thư hai trở đi trả vào ngày mung môt hàng tháng.

5. Hợp đồng thuê số 0351/2016/HDT-LI ngày 16/5/2016 với nôi dung: Công ty TT cho Công ty VN thuê: 02 container văn phòng có WC và máy lạnh loại 40’, giá thuê là 4.620.000 đồng/cont/tháng (đã bao gồm 10% thuế VAT); Công ty VN phải chịu tiền vận chuyển, nâng, hạ cont đến Thành phố T, tinh Binh Dương là 4.700.000đ/Cont/lượt, thuế VAT 10%. Phương thưc thanh toán băng chuyển khoản. Đợt đâu ngay khi ký hợp đồng là 19.580.000đ; tư tháng thư hai trở đi bên thuê thanh toán vào ngày mung môt hàng tháng.

Tông giá trị các hợp đồng mua bán là 988.350.000đ.

Công ty TT đã giao toàn bô các container mua bán và cho thuê cho Công ty VN.

Quá trinh thực hiện hợp đồng: Công ty VN chi thanh toán tiền mua container vào ngày 24/5/2016 là 100.000.000 đồng và tiền thuê vào ngày 21/4/2016 là 11.990.000 đồng . Ngày 06/7/2016, Công ty VN có thông báo số 07/7/ĐXMTTTVN đề nghị được thanh toán số tiền mua container làm 03 đợt vào các ngày: 31/7/2016 trả 259.920.833 đồng; 31/8/2016 trả 259.920.833 đồng ; 30/9/2016 trả 259.920.833 đồng nhưng chi trả được tông công là 409.970.833 đồng bao gồm: trả cho hợp đồng mua container là 359.920.833 đồng và trả cho hợp đồng thuê container là 50.050.000đ.

Tuy nhiên do Công ty VN không thanh toán đúng thoa thuận nên Công ty TT đã thu hồi 20 container vào tháng 12/2016 (10 container còn lại thi do Công ty VN đã tháo rã nên không thu hồi được) trong đó thu hồi 12 container vào ngày 12/12/2016, 08 container còn lại bị thất lạc biên bản nên nhớ không ngày thu hồi. Tại biên bản làm việc ngày 02/11/2016 giữa Công ty TT và Công ty đua xe môtô thoa thuận cấn trư giá trị 20 cont mà Công ty TT đã thu hồi là 420.000.000 đồng ( đơn giá là 18.000.000 đồng/cont 40’ và 30.000.000 đồng/cont loại 10’WC). Sau khi cấn trư thi Công ty VN còn nợ Công ty TT tiền mua container là 208.429.167 đồng.

Vào các ngày 09/9/2016 và ngày 17/01/2017, Công ty TT đã thu hồi các container cho thuê. Hiện Công ty VN Việt Nam còn nợ Công ty TT số tiền thuê là 76.778.000 đồng.

Yêu câu khởi kiện của Công ty TT:

- Buôc Công ty VN thanh toán cho Công ty TT số tiền mua container còn nợ là 208.429.167 đồng cung với tiền lãi chậm thanh toán theo lãi suất nợ quá hạn trung binh trên thị trương tư ngày 01/10/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm.

- Buôc Công ty TNHH đua xe mô tô thanh toán cho Công ty TT số tiền thuê container còn nợ là 76.778.000 đồng.

Phần trình bày của bị đơn- Công ty VN: Ngày 23/12/2016, ông Hà Minh T và ông Hà Văn L nhận chuyển nhượng toàn bô vốn góp trong Công ty VN tư ông Trân Ngọc D, ông Võ Nguyên Quốc Tr và ông Tô Thanh S. Tại văn bản chuyển nhượng thoa thuận bên chuyển nhượng phải bàn giao và có trách nhiệm thông báo đến các đối tác cũng như khách hàng đồng thơi cam kết đến thơi điểm hợp đồng có hiệu lực thi bên chuyển nhượng không còn bất cư khoản nợ nào, nếu có, bên chuyển nhượng se hòan toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đến đâu năm 2018 sau khi quyết toán thuế năm 2017, ông T phát hiện ông D chưa kết toán thuế và hiện nay còn biết thêm ông D còn nợ tiền Công ty TT. Ông T đã đã liên hệ với ông D và các thành viên Hôi đồng quản trị công ty cũ và tất cả các thành viên công ty cũ cũng đã đồng ý tự chịu trách nhiệm về vấn đề trên. Do đó ông T đề nghị các ông Trân Ngọc D, Võ Nguyên Quốc Tr, Tô Thanh S chịu trách nhiệm các khoản nợ mà Công ty TT đang đòi.

Ngày 22/11/2018, Công ty VN có đơn yêu câu phản tố yêu câu Tòa án buôc Công ty TT trả 20 container theo đúng chủng loại, kích thước mà Công ty TT đã bán. Giá trị tạm tính là 565.000.000đ. Yêu câu Công ty TT phải vận chuyển toàn bô số container nêu trên về lại nơi đã kéo đi là Trương đua đương VVK, Định Hòa, thành phố T, tinh Binh Dương.

- Người co quyên lơi, nghia vu liên quan ông Trần Ngọc D vắng mặt tại phiên tòa nhưng co bản tự khai ngày 04/6/2018 và ngày 02/7/2018, trình bày: Vào khoảng tháng 5/2016, Công ty VN do ông D đại diện theo pháp luật có ký các hợp đồng với Công ty TT như đại diện nguyên đơn trinh bày. Ông D có trả cho Công ty TT 2 lân là khoảng 350.000.000 đồng và tiền thuê 02 container là gân 400.000.000 đồng. Khoảng tháng 11, Công ty VN thể thao Việt Nam có quá nhiều công nợ phải trả nên ông D có bàn với ông H ( đại diện Công ty TT trong giao dịch mua bán và cho thuê) và hai bên đã thống nhất thu hồi lại 15 container để trư vào công nợ. Trong thơi điểm trên, ông H có bàn với ông D nếu ông D giới thiệu cho Công ty TT bán được container cho Công ty Đại Nam thi se trả cho ông D tiền huê hồng để cấn trư thêm vào công nợ của Công ty TT với Công ty VN, lúc bán được số container trên, ông D có liên lạc với ông H nhưng không được và cho Công ty TT xuống Công ty đua xe mô to thu hồi 15 container. Vào khoảng tháng 11 ông D đã bán lại Công ty VNcho ông Hà Minh T. Khi bán Công ty VN cho ông Hà Minh T, ông T đã biết Công ty VN còn đang nợ tiền mua bán và thuê container của Công ty TT. Về việc cấn trư tiền nợ băng việc thu hồi cotainer thi hai bên có trao đôi nhưng chưa thống nhất. Việc trao đôi diên ra trước khi ông D bán Công ty. Việc Công ty TT lấy Container lúc nào ông D không biết. Ông D cũng không biết về số tiền đã cấn trư vi đã bán và bàn giao cho chủ mới trước khi sự việc xảy ra. Về số nợ mà Công ty TT kiện ông D không chấp nhận.

Người co quyên lơi nghia vu liên quan ông Tô Thanh S vắng mặt tại phiên tòa co bản tự khai ngày 02/7/2018 và ngày 28/11/2018 trình bày: Khoảng tháng 4 năm 2016, ông S có cung ông Trân Ngọc D đưng tên để ông D xin giấy phép thành lập Công ty TNHH VN (do ông D nhơ đưng tên gium) và ông S có phụ làm việc tại Công ty. Khoảng tháng 11/2016, khi ông S về quê lên thi thấy xe của Công ty TT đến chở hết Containner. Khoảng tháng 12/2016 ông D có kêu ông S ký tên bán Công ty VN thể thao Việt Nam cho công ty 2K do bà Nguyên Thị Q, me ruôt của ông Hà Minh T là đại diện theo pháp luật. Bà Q đã cung ông D đi thanh toán nợ trước đó của Công ty TNHH VN cho các chủ nợ như công ty sắt thép, công ty xây dựng… Ông không nhận bất ky đồng nào tư việc chuyển nhượng công ty mô tô. Trong quá trinh cung đưng tên trên giấy phép của Công ty VN với ông D và ông Tr thi ông không biết gi việc giao dịch, ký hợp đồng của Công ty mô tô vi mọi việc do ông D thực hiện. Ông S xác nhận có ký trên môt số biên bản giao, nhận container khi Công ty TT đến thu hồi nhưng ông ký chi là để xác nhận việc Công ty TT có thu hồi còn ông không biết số lượng và chủng loại container mà Công ty TT thu hồi.

Ông Võ Nguyễn Quốc Tr vắng mặt tại phiên tòa nhưng co Bản tự khai ngày 04/6/2018 trình bày: Khoảng tháng 4/2016, ông D có nhơ ông Tr và môt ngươi nữa là Tô Thanh S cung đưng tên thành lập Công ty VN. Ông Tr không có nhận lương mà chi hô trợ ông D trong việc quản lý xây dựng sân đua và không tham gia bất ky hoạt đông kinh doanh nào của công ty. Đến tháng 12/2016, ông D nói làm ăn thua lô cân phải bán công ty để trả nợ. Ông Tr có ký vào giấy bán công ty nhưng không nhận bất cư khoản tiền nào tư việc mua bán công ty. Ông Tr không biết về việc bàn giao nợ nân, tiền mua bán giữa ông D và ông Trí. Việc Công ty TT khởi kiện Công ty VN không liên quan đến ông và ông không có trách nhiệm gi trong vụ kiện này.

Ông Võ Minh Hiêu vắng mặt tại phiên tòa nhưng co Bản tự khai ngày 19/7/2018 trình bày: Ông Hiếu thực hiện việc ký kết hợp đồng mua bán, thuê container với Công ty VN với tư cách là ngươi được Công ty TT ủy quyền. Ông Hiếu không có quyền tự quyết định việc chi hoa hồng cho đối tác như lơi trinh bày của ông D. Việc ông D cho răng ông H đồng ý cấn trư tiền hoa hồng của ông D (tư việc môi giới cho Công ty TT bán container cho Công ty Đại Nam) vào số tiền mua bán, thuê container mà Công ty mô tô Việt Nam phải thanh toán cho Công ty TT là không có căn cư.

Ý kiên của luật sư bảo vệ quyên và lơi ích hơp pháp của bị đơn:

Nguyên đơn chưa đủ điều kiện khởi kiện do chưa thông báo với chủ sở hữu mới của Công ty VN về việc Công ty VN còn nợ tiền mua bán và tiền thuê container trước khi khởi kiện tại Tòa án.

Việc thu hồi container và cấn trư nợ của nguyên đơn là không minh bạch do Công ty TT tự đến Công ty VN để thu hồi mà không có sự đồng ý của ông Trân Ngọc D là ngươi đại diện theo pháp luật của Công ty VN.

Việc nguyên đơn căn cư Điều III của Hợp đồng để thu hồi container là không đúng và vi phạm Điều 314, Điều 315 Luật thương mại.

Biên bản làm việc ngày 02/11/2016 giữa đại diện của Công ty TT và Trân Ngọc D chi ghi nhận ý kiến của ông D về việc đề nghị mua lại Container và giá mua lại, hai bên chưa thống nhất với nhau nên nguyên đơn căn cư vào giá đề nghị của ông D để cấn trư nợ là không đúng.

Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu câu phản tố của bị đơn, không chấp nhận yêu câu của nguyên đơn.

Ý kiên của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận S:

Về tố tụng: Quá trinh tư khi tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thơi điểm HĐXX nghị án Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và những ngươi tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bô luật tố tụng dân sự.

Về nôi dung: Phía ông D cho răng Công ty TT thu hồi 15 container nhưng nguyên đơn thưa nhận có thu hồi 20 container là có lợi cho bị đơn nên đề nghị xác định số container thu hồi là 20. Đề nghị HĐXX căn cư hợp đồng hai bên đã ký kết và lơi khai nhận của các đương sự cung các chưng cư do Tòa án thu thập được để xác định số tiền nợ mua bán còn thiếu và xem xét thơi điểm thu hồi 02 container thuê còn lại để giải quyết các yêu câu của nguyên đơn.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2019/KDTM-ST ngày 28/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cư vào Điều 227, Điều 266, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 244 Bô luật tố tụng dân sự; Điều 87, Điều 472, Điều 481 Bô luật dân sự 2015; Điều 50, Điều 306 Luật thương mại; Luật thi hành án dân sự; khoản 4 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hôi quy định về mưc thu, miên, giảm, thu, nôp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí và lệ phí Toà án; Danh mục mưc án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009).

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận môt phân yêu câu của Công ty TT.

Buôc Công ty TNHH VN có trách nhiệm trả cho Công ty CP TT 282.017.167 đồng là số tiền còn nợ về việc mua bán container và tiền lãi do chậm thanh toán tư các Hợp đồng số 0162/2016/HDMB-THU ký ngày 04/05/2016, Hợp đồng số 0177/2016/HDMB-THU ký ngày 23/05/2016, Phụ lục hợp đồng mua bán: số 01-0162/2016/PLHĐ-THU ngày 26/05/2016 cung với 37.098.600 đồng là số tiền còn nợ về việc thuê container tư các hợp đồng số 0277/2016/HDT-LI ngày 15/04/2016 và Hợp đồng số 0351/2016/HDT-LI ngày 16/5/2016. Tông công cả hai khoản là 319.115.767 đồng.

2/ Không chấp nhận yêu câu của Công ty TT đòi Công ty VNphải trả số tiền nợ do thuê container theo các hợp đồng nêu trên tông công là 76.778.000đ (Bảy mươi sáu triệu bảy trăm bảy mươi tám ngàn đồng).

3/ Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Công ty TT phải nôp án phí là 3.000.000đ được trư vào tiền tạm ưng án phí đã nôp theo các Biên lai thu số 0028945 và 0028946 ngày 19/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận S TP Hồ Chí Minh. Công ty TT được nhận lại 6.640.406 đồng.

- Công ty TNHH Đua xe mô tô thể thao VN phải nôp án phí là 15.955.800 đồng.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, thơi hạn kháng cáo của các bên đương sự.

* Ngày 18/02/2019, Bị đơn nôp đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.

Nôi dung kháng cáo: Bị đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm do vi phạm tố tụng .

* Ngày 18/2/2018, ông Trân Ngọc D nôp đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.

Nôi dung kháng cáo: Đề nghị hủy bản án sơ thẩm vi thực chất khoản nợ không còn. Khi thanh lý hợp đồng các bên giá trị container đã được tính toán khấu trư xong. Ông D xác nhận có ký kết biên bản làm việc ngày 02/11/2016 nhưng giá trị container định tại thơi điểm này thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực tế nên không đồng ý việc nguyên đơn tính toán khấu trư nợ theo giá trị container tại biên bản để cho răng Công ty VN còn nợ nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Bị đơn trinh bày: Giữ nguyên yêu câu kháng cáo về việc yêu câu hủy toàn bô bản án sơ thẩm do vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Cụ thể:

+ Tòa án sơ thẩm không xem xét yêu câu phản tố của bị đơn là không đúng và ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Bị đơn. Đề nghị Tòa án xem xét trách nhiệm của hôi đồng thành viên cũ của Công ty VN khi chuyển nhượng công ty cho bị đơn đã xác định là không còn khoản nợ nào nên Bị đơn không có trách nhiệm đối với khoản nợ phát sinh trong thơi gian Bị đơn chưa nhận chuyển nhượng.

+ Đơn khởi kiện của bị đơn không có yêu câu về tiền lãi do chậm thanh toán. Việc yêu câu tiền lãi chi được nêu ra tại phiên tòa nên Bản án sơ thẩm xem xét và chấp nhận yêu câu này của nguyên đơn là vi phạm tố tụng do giải quyết vượt quá yêu câu khởi kiện ban đâu theo Điều 244 Bô Luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn : Đề nghị chấp nhận kháng cáo của Bị đơn về việc yêu câu hủy toàn bô bản án sơ thẩm.

* Ngươi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan-ông Trân Ngọc D trinh bày: Giữ nguyên yêu câu kháng cáo.

* Ngươi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Tô Thanh S trinh bày: Đề nghị chấp nhận yêu câu kháng cáo của ông D.

* Nguyên đơn trinh bày đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

* Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: tại phiên tòa, những ngươi tiến hành tố tụng thực hiện đúng các quy định của Bô luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Các đương sự đã thực hiện đây đủ các quyền và nghĩa vụ của minh theo quy định của Bô luật Tố tụng Dân sự.

- Về nôi dung: Đề nghị chấp nhận môt phân kháng cáo của Bị đơn. Hủy phân bản án sơ thẩm về việc chấp nhận yêu câu của nguyên đơn đòi bị đơn phải trả tiền lãi do chậm nghĩa vụ thanh toán số tiền là 73.588.000 đồng và không xem xét yêu câu của nguyên đơn đòi tiền lãi phát sinh. Sửa môt phân bản án sơ thẩm về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cưu các tài liệu, chưng cư có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cư vào kết quả hoi, tranh luận tại phiên Tòa, Hôi đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Vê thẩm quyên giải quyêt: Căn cư vào đơn khởi kiện của Nguyên đơn cung các tài liệu chưng cư có trong hồ sơ thi có cơ sở xác định việc khởi kiện của Nguyên đơn là tranh chấp phát sinh trong hoạt đông kinh doanh thương mại về hợp đồng mua bán hàng hóa. Bị đơn có địa chi trụ sở tại Quận S, thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Quận S căn cư khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bô Luật tố tụng dân sự năm 2015 để thụ lý giải quyết là có cơ sở.

Về việc vắng mặt của ông Võ Nguyên Tr và ông Võ Minh H: Ông Tr và ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cư Điều 227 Bô luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

Xét yêu câu kháng cáo của Bị đơn và ông Trân Ngọc D, Hôi đồng xét xử phân tích như sau:

Về kháng cáo của Bị đơn yêu câu hủy bản án sơ thẩm do cấp sơ thẩm không thụ lý yêu câu phản tố của Bị đơn là vi phạm nghiêm trọng tố tụng: Xét: Tại khoản 3 Điều 200 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu câu phản tố trước thơi điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nôp, tiếp cận, công khai chưng cư và hòa giải”. Quá trinh giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nôp, tiếp cận, công khai chưng cư và hòa giải và ngày 25/9/2018 và đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Do đơn yêu câu phản tố của Bị đơn gửi đến Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 22/11/2018 tưc sau khi Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nôp, tiếp cận, công khai chưng cư và hòa giải nên bản án sơ thẩm nhận định yêu câu phản tố của bị đơn không đủ điều kiện để Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết trong vụ kiện này là có cơ sở. Kháng cáo của bị đơn và ý kiến của luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị hủy án sơ thẩm là không có căn cư pháp luật nên không được Hôi đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Về hinh thưc các hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng thuê hàng hóa : Trong quá trinh giải quyết tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự đều thưa nhận tham gia ký hợp đồng gồm: Hợp đồng mua bán số 0162/2016/HDMB-THU ký ngày 04/05/2016; Hợp đồng mua bán số 0177/2016/HDMB-THU ký ngày 23/05/2016; Phụ lục hợp đồng mua bán: số 01-0162/2016/PLHĐ-THU ngày 26/05/2016; Hợp đồng thuê số 0277/2016/HDT-LI ngày 15/04/2016 và Hợp đồng thuê số 0351/2016/HDT-LI ngày 16/5/2016. Xét : Hinh thưc của hợp đồng phu hợp Điều 24 và 269 Luật Thương mại năm 2005 quy định về hinh thưc hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng thuê hàng hóa. Nôi dung mà các bên giao kết trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật không trái đạo đưc xã hôi. Do vậy các hợp đồng nêu trên phát sinh hiệu lực pháp luật và ràng buôc trách nhiệm pháp lý của hai bên.

Về yêu câu đòi tiền mua bán container:

Về khoản tiền đã thanh toán: Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, Công ty TT và ông Trân Ngọc D (là đại diện theo pháp luật của Công ty VN tại thơi điểm các bên giao kết hợp đồng) đều xác nhận Công ty TT đã giao đủ số lượng container bán cho Công ty VNvới giá trị tông công là 988.350.000 đồng. Tại giấy báo có ngày 24/5/2016 và ngày 04/8/2016 của Ngân hàng Đâu tư và phát triển Việt Nam ( BIDV) thể hiện Công ty VN đã thanh toán tiền mua hàng tông công là 359.920.833 đồng. Ông D và Công ty VN không phản bác chưng cư này. Do vậy, bản án sơ thẩm căn cư vào giấy báo của ngân hàng BIDV nêu trên để nhận định chấp nhận trinh bày của nguyên đơn về số tiền đã thanh toán là 359.920.833 đồng. Khoản tiền chưa thanh toán 628.429.167 đồng (988.350.000 đồng trư 359.920.833 đồng)

Về phân trinh bày kháng cáo của ông D cho răng khoản nợ không còn vi khi thanh lý hợp đồng thi giá trị container đã được tính toán trư khấu trư xong nên giá trị container mà nguyên đơn đưa ra và cho răng Bị đơn còn nợ là không chính xác vi thấp hơn giá thực tế. Xét: Theo thưa nhận của hai bên thi do Công ty VN không có khả năng thanh toán tiếp nên hai bên có bàn bạc về việc thu hồi hàng hóa đã mua bán và cấn trư nợ. Theo nôi dung Biên bản làm việc ngày 02/11/2016 ký kết giữa đại diện của Công ty TT với ông Trân Ngọc D thể hiện việc ông D đề nghị Công ty TT mua lại 15 cont loại 40’HC với giá 18.000.000 đồng/cont và 05 cont loại 10’ với giá 30.000.000 đồng/cont để cấn trư nợ và thanh toán số nợ còn lại chậm nhất vào 31/12/2016. Như vậy việc ông D cho răng giá container theo biên bản ngày 02/11/2016 thấp hơn rất nhiều so với thực tế nhưng không đưa ra được giá thực tế là bao nhiêu nên không có cơ sở để xem xét. Hơn nữa, sau thơi điểm ký kết biên bản này thi các bên không còn biên bản làm việc hay thoa thuận nào khác về việc xử lý hợp đồng cũng như thoa thuận lại về giá container nên đây được coi là thoa thuận cuối cung và làm căn cư để cấn trư nợ. Trong quá trinh giải quyết tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty TT, ông D và bị đơn đều xác nhận số lượng hàng hóa mà Công ty TT đã thu hồi là 20 container. Do vậy bản án sơ thẩm xác định hàng hóa mà Công ty TT thu hồi về là 20 container đã bán cho Công ty VN và căn cư vào Biên bản làm việc ngày 02/11/2016 của đôi bên để tiến hành cấn trư nợ là có căn cư. Cụ thể: Giá trị hàng hóa thu hồi gồm: 15 container loại 40’ x 18.000.000 đồng thành tiền là 270.000.000đ và 05 cont loại 10’ x 30.000.000 đồng thành tiền là 150.000.000 đồng. Tông công là 420.000.000 đồng. Số nợ sau khi cấn trư vào trị giá container đã thu hồi thi Công ty VN còn nợ Công ty TT là 208.429.167 đồng (628.429.167 đồng trư 420.000.000 đồng). Kháng cáo của ông D là không có cơ sở.

Về tiền lãi chậm thanh toán: tại Điều III của các hợp đồng và phụ lục hợp đồng mua bán giữa hai bên có quy định; nếu bên mua không thanh toán tiền đúng hạn thi bên bán se áp dụng lãi suất chậm thanh toán là 0,1%/ngày đối với số tiền chưa thanh toán. Xét: Tại đơn khởi kiện, Nguyên đơn chi yêu câu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc tông công là 342.630.221 đồng và không yêu câu tiền lãi. Tại Biên bản (không tiến hành hòa giải được) do Tòa án sơ thẩm lập ngày 07/8/2018 thi Nguyên đơn có bô sung yêu câu về việc đòi tiền lãi tư ngày 01/10/2016 đến ngày 31/12/2016 tông công số tiền là 57.187.054 đồng. Ngày 17/9/2018, nguyên đơn nôp cho Tòa án sơ thẩm bản tự khai với nôi dung yêu câu buôc Bị đơn trả số tiền 342.630.221 đồng mà không thể hiện có yêu câu tiền lãi. Biên bản ngày 17/9/2018 (về việc không tiến hành hòa giải được) do Tòa án sơ thẩm lập có sự tham gia và ghi nhận phân trinh bày của nguyên đơn cũng không thể hiện nguyên đơn có yêu câu tiền lãi. Như vậy, sau ngày 07/8/2018 thi nguyên đơn không có văn bản nào nôp đến Tòa án để bô sung yêu câu về tiền lãi. Căn cư vào hồ sơ vụ án thi yêu câu tiền lãi của phía nguyên đơn chi được đặt ra tại phiên tòa sơ thẩm và cấp sơ thẩm đã chấp nhận xem xét yêu câu bô sung này là trái với quy định tại Điều 244 Bô Luật tố tụng dân sự năm 2015 nên trinh bày kháng cáo này của phía bị đơn và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho răng bản án sơ thẩm đã xét vượt quá yêu câu khởi kiện ban đâu của nguyên đơn là có cơ sở.

Về yêu câu đòi tiền thuê container:

Về việc thu hồi container thuê: Theo sự thưa nhận của Công ty TT và ông Trân Ngọc D tại phiên toà sơ thẩm thi phía Công ty VN đã trả tiền thuê 03 container tông công là 50.050.000 đồng. Các bên đương sự cũng thưa nhận Công ty TT đã thu hồi các container cho thuê. Đối với container thuê số hiệu 41029F thi các bên thống nhất ngày giao là 24/5/2016 và ngày 9/9/2016 Công ty TT đã thu hồi container. Đã trả tiền thuê được 11.990.000đ. Riêng 2 container số hiệu 41025F và container số hiệu 4291F thi có tranh chấp về thơi gian thu hồi. Phía nguyên đơn trinh bày cho răng: Đối với container thuê số hiệu 41025F ngày giao là 24/5/2016 (BL 88) và container thuê số hiệu 4291F (có vách ngăn) ngày giao là 22/4/2016 (BL 89) . Bị đơn đã trả số tiền thuê là 38.060.000 đồng trong đó 10.340.000đ là phí vận chuyển, nâng/hạ, lượt đi. Đến ngày 17/01/2017 thi Công ty TT mới thu hồi 02 container cho thuê này còn phía ông D chi thưa nhận thuê đến cuối tháng 10/2016. Tại Bản án sơ thẩm nhận định cho răng các chưng cư do nguyên đơn xuất trinh để chưng minh thơi điểm thu hồi là ngày 17/1/2017 có nhiều điểm mâu thuẫn, cụ thể là các biên bản thu hồi container ngày 17/1/2017 nên không chấp nhận trinh bày của nguyên đơn. Đồng thơi chấp nhận trinh bày của ông D về việc xác định thơi điểm thu hồi đối với container số hiệu 41025F và container số hiệu 4291F là 31/10/2016 tưc trước ngày 02/11/2016 là ngày hai bên lập biên bản làm việc về công nợ để tư đó chi chấp nhận tính tiền thuê cho nguyên đơn đến ngày 30/11/2016. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không có ý kiến phản đối nhận định này của bản án sơ thẩm. Như vậy, Hôi đồng xét xử phúc thẩm xác định Công ty TT thu hồi 02 container cho thuê còn lại vào ngày 30/12/2016 như nhận định của bản án sơ thẩm là có cơ sở.

Về số tiền thuê còn nợ: Căn cư nhận định tại mục [3.4.1] trên thi tiền thuê cụ thể như sau:

Đối với container số hiệu 41029F: Ngày giao là 24/5/2016, ngày thu hồi là ngày 9/9/2016, thơi gian thuê là 3,5 tháng, giá thuê 4.620.000đ/tháng. Tiền thuê của 3,5 tháng là 16.308.600 đồng Bị đơn đã trả được 6.820.000 đồng (11.990.000đ tiền đã nhận trư 5.170.000đ phí vận chuyển, nâng, hạ lượt đi ) còn nợ là 9.488.600 đồng.

Đối với container số hiệu 41025F: Ngày giao là 24/5/2016, ngày thu hồi là 31/10/2016, thơi gian thuê là 5 tháng 6 ngày, giá thuê là 4.620.000đ/tháng . Tiền thuê chưa trả là 24.024.000đ

Đối với container số hiệu 4291F (có vách ngăn): Ngày giao là 22/4/2016, ngày thu hồi 31/10/2016, thơi gian thuê là 6 tháng 8 ngày, giá thuê tháng đâu là 6.820.000đ (trong đó 2.000.000 đồng là tiền thuê vách ngăn và 200.000 đồng thuế VAT), các tháng tiếp theo là 4.620.000 đồng. Tiền thuê và tiền xây vách ngăn chưa trả tông công là 31.306.000 đồng.

Số tiền thuê của 02 container số hiệu 41025F và 4291F thu hồi ngày 31/10/2016 tông công là 55.330.000 đồng. Đã trả được 27.720.000đ (38.060.000đ trư 10.340.000đ phí vận chuyển nâng/hạ lượt đi) còn lại là 27.610.000đ.

Như vậy bản án sơ thẩm nhận định cho răng số tiền thuê container còn nợ của cả 03 container là 37.098.600đ . Yêu câu của Nguyên đơn đòi bị đơn phải trả 76.778.000 đồng tiền thuê là không có cơ sở nên chi chấp nhận môt phân yêu câu của nguyên đơn, buôc bị đơn phải trả số tiền thuê 37.098.600 đồng là có cơ sở.

Về trách nhiệm thanh toán: Căn cư vào các biên bản giao nhận do nguyên đơn cung cấp thi Công ty TT tiến hành thu hồi 12 cont vào ngày 12/12/2016, 08 cont còn lại nguyên đơn cho răng đã thất lạc biên bản giao nhận, không biết ngày thu hồi nhưng là trong tháng 12/2016. Phía ông Trân Ngọc D trinh bày cho răng: “Đến ngày 23/12/2016 thi chính thưc hoàn tất thủ tục sang nhượng công ty về mặt giấy tơ. Do ông nghĩ răng việc Công ty TT thu hồi 20 container là đã cấn trư xong công nợ nên ông có báo với phía chủ mới của Công ty đua xe là ông T là có nợ Công ty TT nhưng đã giải quyết xong”. Phía đại diện Công ty VN cho răng khi bàn giao giữa chủ cũ và chủ mới của Công ty đua xe thi chi bàn giao sô sách kế toán và ông D có lập danh sách những chủ nợ của Công ty VN nhưng không thấy đề cập đến Công ty TT. Xét: Về nguyên tắc khi chuyển nhượng Công ty thi giữa chủ cũ ( ông D và ông S) với chủ mới ( ông T) thi đôi bên phải chuyển giao toàn bô quyền và nghĩa vụ bao gồm luôn các khoản nợ của công ty. Điều này đồng nghĩa với việc bên nhận chuyển nhượng phải có nghĩa vụ kế thưa quyền và nghĩa vụ công ty cụ thể là khoản nợ của Công ty VNđối với Công ty TT. Việc các bên có tranh chấp về nôi dung bàn giao phát sinh tư hợp đồng chuyển nhượng công ty là vấn đề nôi bô công ty. Trương hợp có tranh chấp thi các bên có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của minh theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm xử lý các khoản nợ phát sinh của Công ty VNtrước thơi điểm chuyển nhượng công ty vẫn thuôc về Công ty VN. Do Công ty VN đã vi phạm thoa thuận về nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng nên Công ty TT thu hồi tài sản đã bán và khởi kiện yêu câu đòi Công ty VN phải trả số tiền mua bán container và tiền thuê container là có căn cư phu hợp Điều 50 Luật thương mại 2005 quy định về nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán, Điều 271 Luật thương mại quy định về nghĩa vụ trả tiền thuê và thoa thuận mà hai bên đã giao kết tại các hợp đồng .

Về trinh bày của đại diện Bị đơn cho răng khi mua lại Công ty VN vào ngày 23/12/2016 tư ông D thi hai bên chi bàn giao với nhau về sô sách kế toán trong đó không có khoản nợ của Công ty TT. Phía ông Trân Ngọc D cho răng khi bán Công ty VN cho ông Hà Minh Tí thi có báo cho ông T biết là còn nợ tiền mua bán và thuê container của Công ty TT và ông Hà Minh Trí đã trư số tiền 15 container do Công ty TT đã thu hồi về. Nhận thấy, việc ông D là ngươi đại diện theo pháp luật cũ của Công ty đua xe moto, ông S, ông Tr và ông Hà Minh T có quan hệ chuyển nhượng phân vốn góp trong công ty và bàn giao công nợ với nhau. Đây là giao dịch về việc mua bán Công ty và đôc lập với yêu câu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ kiện. Trong quá trinh giải quyết tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm thi giữa bị đơn và ông D không có đặt yêu câu tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng Công ty. Bản án sơ thẩm nhận định cho răng trương này nên các đương sự quyền khởi kiện (nếu có tranh chấp) trong môt vụ kiện khác là có cơ sở.

Tư những phân tích tại mục [3] trên, xét thấy bản án sơ thẩm xác định tông công tiền nợ mà Công ty VN còn nợ Công ty TT gồm: tiền mua bán là 208.429.167 đồng cung tiền lãi do chậm thanh toán tính tư ngày 01/10/2016 tới ngày xét xử sơ thẩm và tiền thuê là 37.098.600 đồng tông công là 319.115.767 đồng và buôc Công ty VNphải thanh toán khoản tiền này là không có cơ sở. Do vậy căn cư khoản 2 Điều 308 Bô luật tố tụng dân sự năm 2015 Hôi đồng xét xử chấp nhận môt phân kháng cáo của Bị đơn và ông Trân Ngọc D. Sửa môt phân bản án sơ thẩm như ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân tại phiên tòa. Cụ thể: Chấp nhận môt phân yêu câu khởi kiện của bị đơn về việc buôc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn các khoản nợ phát sinh tư hợp đồng mua bán và hợp đồng thuê được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn bao gồm: tiền mua bán là 208.429.167 đồng và tiền thuê là 37.098.600 đồng. Không chấp nhận yêu câu của nguyên đơn đòi tiền thuê tính tư ngày 31/10/2016 đến ngày 17/1/2017 tông công là 39.679.400 đồng . Hủy phân bản án sơ thẩm về việc chấp nhận yêu câu của nguyên đơn đòi bị đơn phải trả tiền lãi do chậm nghĩa vụ thanh toán số tiền là 73.588.000 đồng và không xem xét yêu câu của nguyên đơn về tiền lãi phát sinh tư hợp đồng mua bán nêu trên. Do yêu câu này chưa được xem xét giải quyết trong vụ án này nên Nguyên đơn có quyền khởi kiện trong vụ án khác khi có yêu câu theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn trả tiền nợ thuê là 76.778.000 đồng. Bản án sơ thẩm nhận định chi chấp nhận khoản tiền nợ thuê là 37.098.600 đồng như vậy khoản tiền không chấp nhận là 37.098.600 đồng nhưng phân quyết định của bản án lại ghi “ Không chấp nhận yêu câu của Công ty TT đòi Công ty VN phải trả số tiền nợ do thuê container tông công là 76.778.000 đồng” là không đúng nên Hôi đồng xét xử sửa lại nôi dung quyết định này của bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị sửa môt phân nên án phí sơ thẩm được sửa lại như sau:

Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 26, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mưc thu, miên, giảm, thu, nôp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Công ty TT phải chịu án phí là 3.000.000 đồng trên phân yêu câu không được chấp nhận là 39.679.400 đồng. Công ty VN phải chịu án phí là 12.276.388 đồng trên số tiền phải trả cho nguyên đơn tông công 245.527.767 đồng ( tiền mua bán là 208.429.167 đồng và tiền thuê là 37.098.600 đồng).

Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên ngươi kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Do tại hợp đồng các bên có thoa thuận về việc trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ và xác định mưc lãi là 0,1%/ ngày tương đương 36%/năm là không phu hợp với khoản 1 Điều 468 Bô luật dân sự năm 2015 nên căn cư vào Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hôi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thi lãi do chậm nghĩa vụ thi hành án được tính kể tư ngày tiếp theo của ngày xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bô luật dân sự năm 2015.

Vi các le trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cư khoản 2 Điều 308 Bô luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cư Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thương vụ Quốc hôi quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Căn cư Khoản 2 Điều 468 Bô luật dân sự năm 2015 và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hôi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cư Điều 26 Luật Thi hành án dân sự,

Tuyên xử:

Chấp nhận môt phân yêu câu kháng cáo của Bị đơn - Công ty TNHH VN và Ông Trần Ngọc D. Sửa môt phân bản án sơ thẩm như sau:

1. Buôc Công ty VN phải trả cho Công ty TT khoản nợ tông công là 245.527.767 đồng cụ thể:

1.1. Khoản nợ 208.429.167 đồng phát sinh tư các Hợp đồng mua bán số 0162/2016/HDMB-THU ký ngày 04/05/2016, Hợp đồng số 0177/2016/HDMB-THU ký ngày 23/05/2016, Phụ lục hợp đồng mua bán: số 01-0162/2016/PLHĐ-THU ngày 26/05/2016.

1.2. Khoản nợ 37.098.600 đồng phát sinh tư Hợp đồng thuê số 0277/2016/HDT-LI ngày 15/04/2016 và Hợp đồng số 0351/2016/HDT-LI ngày 16/5/2016.

2. Không chấp nhận yêu câu của Công ty TT đòi Công ty VN phải trả số tiền nợ do thuê container theo các hợp đồng thuê nêu trên tông công là 39.679.400 đồng .

3. Hủy phân bản án sơ thẩm về việc chấp nhận yêu câu của nguyên đơn đòi bị đơn phải trả tiền lãi do chậm nghĩa vụ thanh toán số tiền là 73.588.000đ đồng và không xem xét yêu câu của nguyên đơn đòi bị đơn phải trả tiền lãi do chậm nghĩa vụ thanh toán phát sinh tư các hợp đồng nêu trên.

4. Về án phí:

4.1. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Công ty TT phải chịu án phí là 3.000.000 đồng nhưng được trư vào tiền tạm ưng án phí đã nôp tông công là 9.640.406 đồng theo các Biên lai thu số 0028945 và 0028946 cung ngày 19/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận S TP Hồ Chí Minh. Công ty TT được nhận lại số tiền 6.640.406 đồng.

- Công ty VN phải nôp án phí là 12.276.388 đồng.

4.2. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:

- Công ty VNđược hoàn trả tiền tạm ưng án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0010836 ngày 18/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận S, thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Trân Ngọc D được hoàn trả tiền tạm ưng án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0010843 ngày 21/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận S, thành phố Hồ Chí Minh.

5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể tư ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án (Công ty TNHH VNthể thao Việt nam) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mưc lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bô luật dân sự năm 2015.

Trương hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi ngươi được thi hành án dân sự, ngươi phải thi hành án dân sự có quyền thoa thuận thi hành án, quyền yêu câu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thơi hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể tư ngày tuyên án.

Cỡ chữ