vanban.org

Bản án 757/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/11/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Thu H - Lương Đức N"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 757/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 02-11- 2018
V/v “ Tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau
khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoàng Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.

Ngày 02 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, địa chỉ số 27 đường Thành Thái, Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 619/2018/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 268/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thu H, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa chỉ thường trú: đường M, Phường N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: Đường H, phường K, Quận T, Tp. Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lương Đức N, sinh năm: 1977 (có mặt).

Địa chỉ: Đường L, Phường F, Quận I, Tp. Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 06/9/2018 gửi đến Tòa và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đặng Thị Thu H trình bày:

Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 301/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2018 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, bà H giao con trẻ Lương Ngọc Nam P sinh ngày 06/10/2012 cho ông N trực tiếp nuôi trẻ. Tuy nhiên, từ khi nhận quyền trực tiếp nuôi trẻ, ông N đã cản trở việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục của bà đối với con.

Trẻ Nam P đang học nội trú tại Trường Ngô Thời Nhiệm, quận Gò Vấp. Mỗi tháng bà cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng để ông N đóng tiền học cho con tại trường. Hàng tuần, bà và ông N đến thăm con, còn lại giao cho trường giáo dục và trực tiếp nuôi dưỡng trẻ. Nhà trường vì theo sự giám hộ trực tiếp của ông N đã không cho bà mang con về nhà chăm sóc, bà cảm thấy con gái bà bị suy nhược cơ thể, ốm yếu bệnh tật không người trông coi, trong khi ông N chỉ đến thăm con vào ngày thứ bảy hàng tuần. Bà có nguyện vọng muốn đưa đón con về nhà nuôi khi mà hiện tại sau khi ly hôn, bà có điều kiện nuôi trực tiếp trẻ P. Trẻ P là bé gái, đang vào độ tuổi dậy thì cần sự chăm sóc từ mẹ. Quá trình đến thăm con ở trường và ngủ lại đó với con đã gây bất tiện cho bà khi phải thực hiện việc chăm sóc con, trong khi bản thân bà còn nhiều việc, vừa đi làm vừa đến trường thăm con và ngũ lại qua đêm để gần gũi và chăm sóc con.

Bản thân ông N thường xuyên đi công tác nên việc thăm nom, chăm sóc con còn hạn chế. Ông không thể nuôi con trực tiếp mà lại phó thác cho nhà trường. Qua đó, bà sợ ảnh hưởng nhân cách con trong độ tuổi trưởng thành. Bà nhận thấy việc giao con cho nhà trường và cho con ở nội trú là một sự thiếu suy nghĩ trước đây của bà. Nay bà suy nghĩ lại và yêu cầu Tòa giao con cho bà đem về nuôi trực tiếp. Do đó, bà đề nghị được thay đổi quyền nuôi con trực tiếp cho bà và không yêu cầu ông N cấp dưỡng.

Bị đơn – ông Lương Đức N trình bày: Ông không đồng ý cho bà H trực tiếp nuôi trẻ Nam P vì bà H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo Quyết định công nhận thuận tình số 301/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2018 và nghiện game nên ông không giao con cho bà H trực tiếp nuôi.

Trẻ Nam P được học ở trường nội trú, môi trường học tập tốt. Trẻ không bị trầm cảm, biếng ăn và phát triển hoàn toàn bình thường. Khi thỏa thuận ly hôn, chính bà H là người đồng ý cho ông đưa con vào trường nội trú, khi ký giấy ly hôn bà cũng đồng ý giao con cho ông nuôi dưỡng trực tiếp thì nay ông có quyền nuôi con theo cách của ông. Hiện nay, do hoàn cảnh công việc, ông N không đón con về nhà vì hiện tại ông bận công việc phải giao tiếp và không có thời gian để đến trường chăm sóc con. Ông đã yên tâm với cách chăm sóc và giáo dục của nhà trường nên ông đề nghị Tòa tiếp tục duy trì việc giao con cho ông chăm sóc theo quyết định của Tòa án Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, không đồng ý giao con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc nuôi con trực tiếp thì ông cho ý kiến rằng 1 năm nữa ông sẽ cố gắng thu xếp đưa trẻ về sống chung với ông, vì nhà ông hiện tại còn bừa bộn, chỗ ở không tiện để cho con ở nên tạm gửi cho nhà trường trông nom và giáo dục cho trẻ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn, bà Đặng Thị Thu H yêu cầu thay đổi người trực tiếp ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn – ông Lương Đức N cư trú tại Phường 9, Quận 10 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Qua phần trình bày của bà H tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hiện tại con gái của ông N và bà H là trẻ Nam P chỉ mới 6 tuổi và là bé gái. Hiện lứa tuổi của trẻ chỉ cần được nuôi dưỡng chu đáo trong môi trường lành mạnh nhằm phát triển tốt nhất về mặt thể chất là chủ yếu. Riêng việc học ở trường cũng chỉ cần vừa đủ với sự phát triển tâm lý, hiểu và cảm nhận với môi trường xung quanh cho trẻ mà thôi.

Tuy nhiên, do bởi theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 301/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2018, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, hai bên thỏa thuận giao con cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng. Nhưng ông N không thực hiện quyền nuôi con trực tiếp mà lại gửi con vào trường nội trú. Việc này mặc dù xảy ra trước khi hai bên thỏa thuận ly hôn, nhưng đã không đúng quy định pháp luật và đã làm ảnh hưởng nhất định đến đời sống tâm tư tình cảm và tâm lý của con trẻ. Việc gửi con vào trường và cuối tuần mới đón con về của ông N gây thiệt thòi cho quyền lợi của con, trong khi bà H có thể nuôi dạy con trực tiếp thì bà cũng chỉ đến trường ngủ với trẻ qua đêm vài lần trong tháng vì không tiện đi lại. Nay bà H đã có suy nghĩ lại cần thiết và muốn đón con về nuôi dạy trực tiếp là một điều phù hợp quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về nghĩa vụ của cha mẹ trong việc nuôi con trực tiếp khi ly hôn.

Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền và nghĩa vụ với con như sau:

1. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên…

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con.

Trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

2. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Đối chiếu quy định trên, Hội đồng xét xử thấy trong Quyết định công nhận thuận tình ly hôn đã có hiệu luật pháp luật đã ghi nhận việc giao con cho ông N trực tiếp dưỡng nuôi con. Nhưng ông lại không trực tiếp nuôi dưỡng mà lại gửi con vào trường nội trú, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của con là được nuôi dưỡng trực tiếp bởi cha hoặc mẹ. Đối với trẻ P khi cha mẹ ly hôn, quyền lợi là đã bị thiệt thòi, nên khi bà H thăm con và muốn được trực tiếp chăm sóc con thì bị hạn chế việc chăm sóc, gần gũi và gây bất tiện cho bà khi phải vào trường nội trú và ngủ lại với con. Điều đó làm ảnh hưởng nhất định đến quyền lợi của trẻ và gây cản trở cho người không trực tiếp nuôi con.

Tại khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định trường hợp “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” :

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a)..

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.

Hội đồng xét xử nhận thấy hiện tại ông N không có đủ điều kiện nuôi con khi ông trình bày tại Tòa rằng nhà cửa ông chưa sửa sang xong, không thể cho con về ở chung, buổi chiều sau giờ làm ông còn bận nhiều việc nên không thể đến thăm con vì trường con học xa nơi làm việc của ông. Và ông cũng không thể đón con về nhà chăm sóc riêng thường xuyên, cũng như không thể đưa rước trẻ về nhà nên ông cho rằng việc để trẻ ở lại trong trường và giao cho nhà trường chăm nom, giáo dục là tốt cho trẻ.

Nhưng đối chiếu theo Luật hôn nhân và gia đình hiện hành không có điều luật nào cho phép người được dưỡng nuôi con trực tiếp giao con cho bên thứ ba trực tiếp nuôi dưỡng. Nay Hội đồng xét xử thấy bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, bà cam kết sẽ đưa đón trẻ mỗi ngày khi chuyển con về ở chung với bà và đổi trường cho trẻ để tiện đưa rước con, chăm sóc con là một việc làm cần được khuyến khích và động viên để con trẻ có thể lớn lên bên cạnh cha hoặc mẹ, là những người mà pháp luật quy định là người chăm sóc nuôi dưỡng trực tiếp con cái sau khi ly hôn. Điều này là hoàn toàn có lợi cho quyền lợi của con trẻ.

Căn cứ quy định khoản 5 Điều 84 quy định trường hợp “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” .

“ 5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;”

Xét bà H đang là mẹ của trẻ P, hiện đang là người không trực tiếp nuôi con nhưng khi ông Nkhông có đủ điều kiện nuôi con trực tiếp, giao con cho nhà trường nuôi dưỡng, thì bà H có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử quyết định thay đổi người nuôi con trực tiếp: giao con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông N có quyền thăm nom và chăm sóc con chung nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà H không đặt yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và đề nghị tự giải quyết phần cấp dưỡng riêng không yêu cầu Tòa giải quyết, nên Tòa không giải quyết về cấp dưỡng.

Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà H tự nguyện chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 82, khoản 2 Điều 84 của Luật Hôn

nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Thay đổi người trực tiếp nuôi con: Giao trẻ Lương Ngọc Nam P sinh ngày 09/10/2012 cho bà Đặng Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông N có quyền thăm nom và chăm sóc con chung nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đôi bên tự thỏa thuận,Tòa không giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà H tự nguyện chịu. Đã thu theo biên lai số 16300 ngày 11/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ