- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 756/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22-5-2023 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy Tiên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Nhanh.
2. Ông Nguyễn Thành Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2023/TLST-HNGĐ ngày 10
tháng 01 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 1966/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phượng U, sinh năm 1994.
Địa chỉ: 12 Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Hà Anh T, sinh năm 1995; Quốc tịch: Việt Nam.
Địa chỉ thường trú: 155/8 Đường H, Phường I, Quận K, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Địa chỉ cư trú: 15/5 X, Y, thành phố Z, Đài Loan.
Các đương sự đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/8/2022 và những lời khai trong quá trình tố
tụng, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Phượng U trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hà Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện,
có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí
Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2022 ngày 10/05/2022. Sau
khi kết hôn, thời gian đầu hạnh phúc đến cuối tháng 05/2022 ông Hà Anh T đi
xuất khẩu lao động tại Đài Loan, bà vẫn ở lại Việt Nam. Do không có điều kiện gặp nhau để hàn gắn tình cảm nên tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không giải quyết được, khả năng đoàn tụ lại không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị được ly hôn với ông Hà Anh T để ổn định cuộc sống.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Vì bận việc, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Tại Bản tự khai đã được chứng thực của Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt
Nam tại Đài Bắc ngày 03/3/2023 bị đơn ông Hà Anh T xác nhận lời trình bày của bà Nguyễn Thị Phượng U về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay bà U xin ly hôn, ông cũng đồng ý ly hôn với bà U. Do điều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử
vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Phượng U và ông Hà Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện
và được Ủy ban nhân dân Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà U và ông Hà Anh T là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh; Bị đơn hiện cư trú tại nước
ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên
vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét bản tự khai của ông Hà Anh T đã được chứng thực của Văn phòng
Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc ngày 03/3/2023 nên được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt trong suốt quá
trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được quy định tại Khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Phượng U được ly hôn ông Hà Anh T.
Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà U và ông T thì thực tế sau khi
kết hôn hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn
cho đến nay, bà U và ông T không có quá trình chung sống lâu dài, do xa cách
địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết
sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà U và ông T đang sinh sống ở hai
nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt
được. Vì vậy, bà Nguyễn Thị Phượng U yêu cầu được ly hôn ông Hà Anh T là
phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà
Nguyễn Thị Phượng U và ông Hà Anh T khai không có.
Án phí sơ thẩm:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Phượng U phải chịu theo
quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Phượng U và ông Hà Anh T có
quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147,
Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Phượng U.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phượng U được ly hôn ông Hà Anh
T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2022 do Ủy ban nhân dân Phường B,
Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/5/2012 cho bà Nguyễn Thị
Phượng U và ông Hà Anh T không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn), bà Nguyễn
Thị Phượng U chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà U đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2021/0003837 ngày 04/01/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà U đã nộp đủ tiền án phí.
3. Bà Nguyễn Thị Phượng U được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Hà Anh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT.(Linh/15b) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Thủy Tiên |