vanban.org

Bản án 756/2018/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Diệp Thị P có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền là 1.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "TỔNG CÔNG TY Đ - DIỆP THỊ P"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Diệp Thị P có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền là 1.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 756/2018/DS-ST.
Ngày: 25/10/2018
V/v tranh chấp hợp đồng
Mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm 2. Ông Phạm Văn Chính

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mến – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 352/2018/TLST-DS ngày 18 tháng 06 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2018/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 273/2018/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Tổng công ty Đ Địa chỉ: đường T, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn P Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Văn D (xin vắng mặt) Bịđơn: Bà Diệp Thị P Địa chỉ: ấp 5, xã S, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 05 năm 2018 và bản tự khai ngày 02/8/2018, trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 18/10/2002 bà Diệp Thị P có ký Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt số 12006016 với Tổng công ty Đ. Trong quá trình sử dụng, bà P còn nợ tiền điện là 1.064.533 (Một triệu sáu mươi bốn ngàn năm trăm ba mươi ba) đồng. Cụ thể Hóa đơn số 8888587 số tiền 485.705 đồng, Hóa đơn số 9038864 số tiền là 238.625 đồng, Hóa đơn số 9189491 số tiền là 236.661 đồng, Hóa đơn số 9340893 số tiền là 103.542 đồng.

Do bà P không thanh toán số tiền điện còn nợ, Tổng công ty Đ khởi kiện yêu cầu bà P thanh toán số tiền điện còn nợ là 1.064.533 đồng.

Về phía bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Diệp Thị P vắng mặt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H cho rằng yêu cầu của nguyên đơn là hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sơ chấp nhận.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng bị đơnvắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện H quyết định đưa vụán ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa Tổng công ty Đ và bà Diệp Thị P là“Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Bị đơn trong vụ án cư trú tại huyện H, căn cứ vào khoản 14 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu bà P có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền điện còn nợ tổng cộng là 1.064.533 đồng. Hội đồng xét thấy, căn cứ vào các hóa đơn tiền điện số 8888587 số tiền 485.705 đồng, Hóa đơn số 9038864 số tiền là 238.625 đồng, Hóa đơn số 9189491 số tiền là 236.661 đồng, Hóa đơn số 9340893 số tiền là 103.542 đồng, thì chứng tỏ bà P còn nợ tiền điện của Tổng công ty Đ tổng cộng số tiền là 1.064.533 đồng. Do đó, căn cứ Điều 428, Điều 438 Bộ luật dân sự, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Xét ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa cho rằng yêu cầu của nguyên đơn là hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sơ chấp nhận. Đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm bà Diệp Thị P phải chịu theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vàoĐiều 428, 438 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Diệp Thị P có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền là 1.064.533 (một triệu sáu mươi bốn ngàn năm trăm ba mươi ba) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2/Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Diệp Thị P chịu 300.000đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn lại cho Tổng công ty Đ số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0018612ngày 12/6/2018 cùa Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3/ Nguyên đơn,bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ