vanban.org

Bản án 756/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 756/2017/HNGĐ - ST
Ngày: 09-8-2017
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Ngọc Đúng

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thịnh – Kiểm sát viên

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205/2017/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2017/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1982;

Địa chỉ: số 6/13, đường L, phường P, quận T, Thành phố H.

Bị đơn: Ông Nguyễn Đình V, sinh năm 1979;

Địa chỉ: số 266/7A, đường L, phường P, quận T, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn nhận ngày 03/3/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Thị D trình bày:

Bà và ông Nguyễn Đình V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2002, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện L, tỉnh B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 14, quyển số 01 ngày 25/02/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung ở Bắc Ninh đến năm 2005 chuyển về sống tại địa chỉ 6/13 L, phường P, quận T, Thành phố H

Vợ chồng chung sống với nhau thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường nhưng từ năm 2006 ông V phát sinh tình cảm với người phụ nữ khác và dọn ra sống riêng tại địa chỉ 266/7A P, phường P, quận T, Thành phố H cho đến nay. Thời gian ly thân không quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, cần dứt khoát về mặt pháp lý nên yêu cầu tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà D khai nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đình Hồng S, sinh ngày 04/12/2002 và Nguyễn Đình Thành L, sinh ngày 27/7/2005. Hiện 2 con chung vẫn sống cùng với bà. Do đó, khi ly hôn bà xin trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà D khai không có, không yêu cầu tòa xem xét.

Về nợ chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có nợ chung.

Tòa án nhân dân quận T đã tiến hành hòa giải nhưng ông Nguyễn Đình V vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên ý kiến yêu cầu trên.

- Bị đơn vắng mặt không có lý do

Đại diện VKSND quận T tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện VKS nhân dân quận T nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ xét xử, thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà D, về quan hệ hôn nhân bà D ly hôn ông V. Giao 02 con chung là Nguyễn Đình Hồng S, sinh ngày 04/12/2002 và Nguyễn Đình Thành L, sinh ngày 27/7/2005 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng như ý nguyện của hai trẻ. Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1/ Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số số 14, quyển số 01 ngày 25/02/2002 cấp tại UBND xã P, huyện L, tỉnh B thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị D và ông Nguyễn Đình V là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà D yêu cầu ly hôn, ông V hiện đang cư ngụ tại quận T trước khi thụ lý nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quận T theo qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2/ Về các yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Xét việc bà Phạm Thị D yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Đình V :

Căn cứ lời khai của bà D xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông V là có thật. Cuộc sống vợ chồng có xảy ra những mâu thuẫn, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, không có sự tôn trọng lẫn nhau và thường xuyên xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Tòa án nhân dân quận T đã tiến hành xác minh tại địa phương và được biết mâu thuẫn vợ chồng bà D ông V đã lâu, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến việc ông V ra ngoài sống riêng.

Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông V vắng mặt thể hiện ông V không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, bà D cho rằng hiện nay không còn tình cảm với ông V , không muốn tiếp tục chung sống với ông V nữa. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng bà D và ông V đã thực sự trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn cả hai đã ly thân trong một thời gian dài từ năm 2006 đến nay và không quan tâm và cấp dưỡng nuôi con. Bà D yêu cầu ly hôn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.

Về con chung:

Bà D yêu cầu được nuôi con chung là Nguyễn Đình Hồng S, sinh ngày 04/12/2002 và Nguyễn Đình Thành L, sinh ngày 27/7/2005 và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi là phải dựa vào quyền lợi của trẻ. Căn cứ bản tự khai ngày 28/6/2017 của cháu Hồng S và Thành L, Hội đồng xét xử xét thấy các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Đồng thời, từ trước đến nay cháu chủ yếu do bà D nuôi dưỡng, chăm sóc. Do đó, xét thấy việc bà D yêu cầu được nuôi các con là hoàn toàn phù hợp với lợi ích của cháu và phù hợp với qui định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà D.

Về cấp dưỡng nuôi con:

- Hội đồng xét xử ghi nhận việc bà D không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Do đó, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông V .

Về quan hệ tài sản:

- Về tài sản chung: Bà D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có nợ chung.

Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3/ Về án phí:

Bà Phạm Thị D chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị D:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Đình V .

Giấy chứng nhận kết hôn số 14, quyển số 01 do UBND xã P, huyện L, tỉnh B cấp ngày 25/02/2002 hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về quan hệ con chung: Giao các con chung là Nguyễn Đình Hồng S, sinh ngày 04/12/2002 và Nguyễn Đình Thành L, sinh ngày 27/7/2005 cho bà Phạm Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đồi với ông Nguyễn Đình V do bà D không yêu cầu.

+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.

+ Ông V được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về quan hệ tài sản:

+ Về tài sản chung: Bà D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Bà D khai nhận vợ chồng không có nợ chung.

2/ Về án phí:

Bà Phạm Thị D phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà D đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0026280 ngày 14/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T. Bà D đã nộp đủ.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3/ Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ