vanban.org

Bản án 755/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị S về việc “Ly hôn” đối với ông Trần Tấn P;

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị S được ly hôn ông Trần Tấn P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị S về việc “Ly hôn” đối với ông Trần Tấn P;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 755/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2025
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tiến Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Lượng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hải – Kiểm sát viên.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1389/2025/TLST-HNGĐ ngày 30/5/2025, về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1167/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/8/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 2559/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05/9/2025, giữa các đương S:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị S, sinh năm: 1991

Địa chỉ: số nhà 33 đường V, khu tái định cư LB, phường LB, thành phố TĐ (nay là phường LB), Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Trần Tấn P, sinh năm: 1989

Địa chỉ: số nhà 33 đường V, khu tái định cư LB, phường LB, thành phố TĐ (nay là phường LB), Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà S có đơn xin giải quyết vắng mặt, ông P vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 19 tháng 5 năm 2025 và lời trình bày của nguyên đơn bà Phan Thị S:

Bà và ông Trần Tấn P tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường LB, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 01/6/2016. Cuộc sống chung hạnh phúc, đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn do ông P không tu chí làm ăn, thường xuyên uống rượu, mê cờ bạc, thiếu quan tâm trách nhiệm đối với vợ con. Do bị nghiện rượu nên ông P có biểu hiện mất kiểm soát, hay vô cớ đánh đập, chửi rủa bà và các con, thậm chí còn quậy phá cha mẹ ruột của ông P. Bà và gia đình ông P đã cố gắng khuyên nhủ nhưng ông P không thay đổi. Do quá căng thẳng, áp lực về tinh thần và để đảm bảo an toàn, từ tháng 5/2025 bà đã đưa hai con về quê sinh sống. Đến nay bà xác định không thể tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình với ông P nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Trần Tấn P.

Con chung: Có 02 (hai) con chung tên Trần Phan Tấn K, sinh ngày 23/4/2017 và Trần Phan Tấn T, sinh ngày 12/5/2021. Bà S yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Trần Tấn P đến trụ sở Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt.

Tại phiên tòa,

Bà Phan Thị S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Trần Tấn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Toà án đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân S năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Phan Thị S được ly hôn ông Trần Tấn P. Về con chung: giao 02 con chung tên Trần Phan Tấn K, sinh ngày 23/4/2017 và Trần Phan Tấn T, sinh ngày 12/5/2021 cho bà Phan Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; bà S không yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét, quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn”. Do bị đơn cư trú tại phường LB, thành phố TĐ (nay là phường LB), Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung một số Điều theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025); điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt. Phía nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2016 ngày 01/6/2016 của Ủy ban nhân dân phường LB, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện bà Phan Thị S và ông Trần Tấn P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường LB, Quận K vào ngày 01/6/2016, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Thị S và ông Trần Tấn P là hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông P tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông P vắng mặt và Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của ông P đối với yêu cầu khởi kiện của bà S.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà S và ông P đã xảy ra những mâu thuẫn do vợ chồng thiếu sự quan tâm, chia sẻ trách nhiệm trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Đến nay bà S xác định vợ chồng không còn tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau. Thời gian dài ông P bạo hành bà và các con nên bà không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông P không đến Tòa tham gia hòa giải, không có ý kiến thể hiện mong muốn đoàn tụ gia đình với bà S. Xét, quan hệ hôn nhân của ông P bà S đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà S là có cơ sở chấp nhận.

Con chung: Căn cứ lời khai của bà S phù hợp với bản sao giấy khai sinh số 87/2017 ngày 27/4/2017 và số 127/2021 ngày 19/5/2021 cùng của Uỷ ban nhân dân phường LB, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, đủ căn cứ xác định bà S và ông P có hai người con chung tên Trần Phan Tấn K, sinh ngày 23/4/2017 và Trần Phan Tấn T, sinh ngày 12/5/2021.

Xét, việc quyết định giao con cho ai nuôi Hội đồng xét xử phải xem xét bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con. Do hai con đang được bà S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, ông P và bà S không có thoả thuận về việc nuôi con, hơn nửa quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông P luôn vắng mặt, không thể hiện ý kiến về con chung. Xét thấy bà S đủ điều kiện tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con nên cần giao con chung cho bà S tiếp tục nuôi dưỡng.

Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà S không yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà S xác định không có.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà S phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung một số Điều theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025); khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1, khoản 2 Điều 269; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị S về việc “Ly hôn” đối với ông Trần Tấn P;

1.1. Về quan hệ hôn nhân:

Bà Phan Thị S được ly hôn ông Trần Tấn P.

1.2. Con chung: Giao hai con tên Trần Phan Tấn K (nam), sinh ngày 23/4/2017 và Trần Phan Tấn T (nam), sinh ngày 12/5/2021 cho bà Phan Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà S không yêu cầu ông Trần Tấn P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trần Tấn P được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng.

1.3. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4. Nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Đương sự xác định không có.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị S phải chịu án phí ly hôn 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000234 ngày 29/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh (đã nộp đủ).

3. Quyền và thời hạn kháng cáo: Do các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

Cỡ chữ