vanban.org

Bản án 754/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Bùi Văn A .

Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi con chung tên là Bùi Văn H , sinh ngày `25 tháng 01 năm 2013; anh Bùi Văn A trực tiếp nuôi con chung tên Bùi Văn H , sinh ngày 23 tháng 9 năm 2006 cho đến khi các con đủ mười tám tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định củ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị H xin ly hôn anh A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Bùi Văn A .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 754/2017/HNGĐ-ST
Ngày 21 - 11 - 2017
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đình Điệu

2. Ông Phạm Công Hạ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 565/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2017 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 380/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H , sinh năm 1986; địa chỉ: Khu Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Bùi Văn A , sinh năm 1985; địa chỉ: Khu Q, thị trấn M , huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 6 năm 2017 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Đỗ Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Bùi Văn A kết hôn với nhau vào năm 2006 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M , huyện T, thành phố Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 43 đăng ký ngày 27 tháng 6 năm 2006). Sau khi cưới, vợ chồng sinh sống tại khu Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Mặt khác, anh A chưa chăm lo đến đời sống gia đình. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh A .

- Về con chung: Chị H và anh Bùi Văn A có 02 con chung tên là Bùi Văn H sinh ngày 23 tháng 9 năm 2006 và Bùi Văn H , sinh ngày 25 tháng 01 năm 2013. Hai con chung đang ở với chị H . Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là Bùi Văn H . Chị Hương đồng ý giao con Bùi Văn H cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung để hai bên tự thỏa thuận giao nhận với nhau, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị H và anh A không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại văn bản ghi ý kiến ngày 06 /9/2017, bị đơn là anh Bùi Văn A trình bày: Anh A công nhận lời trình bày của chị H về điều kiện, thời gian và nơi đăng ký kết hôn là đúng. Anh A không đồng ý ly hôn vì vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn. Anh A công nhận lời khai của chị H về con chung là đúng, anh có nguyện vọng được nuôi con chung là Bùi Văn H , đề nghị Tòa án giao con chung là Bùi Văn H cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung để hai bên tự thỏa thuận giao nhận cho nhau nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, vợ chồng tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật; bị đơn chưua chấp hành đúng quy định pháp luật về dân sự. Tòa án đã xác định đúng thẩm quyền giải quyền vụ án, xác định đúng quan hệ pháp luật và những người tham gia tố tụng. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Chị Đỗ Thị H và anh Bùi Văn A đều thống nhất về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn và có hai con chung như đã trình bày và phù hợp với bản sao giấy đăng ký kết hôn, bản sao giấy khai sinh của con chung mà chị Đỗ Thị H đã giao nộp cho Tòa án, phù hợp với tài liệu xác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn M . Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện vợ chồng chị H và anh A có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng khó có khả năng đoàn tụ. Lời khai của cháu Bùi Văn H thể hiện mong muốn được ở với mẹ nhưng việc ở với ai là do bố mẹ cháu quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Bị đơn là anh Bùi Văn A cư trú tại thị trấn M, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; anh A vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên có thẩm quyền xét xử vụ án này. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh A đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 43 đăng ký ngày 27 tháng 6 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng). Căn cứ vào lời khai của các đương sự, tài liệu điều tra xác minh đã xác định được mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh A .

. Về con chung: Chị H và anh A có hai con chung tên là Bùi Văn H , sinh ngày 23 tháng 9 năm 2006 và Bùi Văn H , sinh ngày 25 tháng 01 năm 2013. Việc giao con chung cho ai nuôi cần phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Xét thấy, chị H và anh A đều có đủ điều kiện nuôi con. Anh A có nguyện vọng nuôi con tên H , chị H đồng ý để anh An nuôi con tên H . Vì vậy, giao cho chị Hương trực tiếp nuôi con Bùi Văn H , anh A trực tiếp nuôi con Bùi Văn H là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H và anh A tự thỏa thuận giao nhận cho nhau nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

. Về tài sản chung: Chị H và anh A không đề nghị Tòa án giải quyết tài sản chung trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.

. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xử:

1. Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Bùi Văn A .

2. Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi con chung tên là Bùi Văn H , sinh ngày `25 tháng 01 năm 2013; anh Bùi Văn A trực tiếp nuôi con chung tên Bùi Văn H , sinh ngày 23 tháng 9 năm 2006 cho đến khi các con đủ mười tám tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005713 ngày 16 tháng 8 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Đỗ Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ