- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Lâm Ngọc T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 751/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/7/2023 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Ngọc Kính;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 (địa chỉ: Số A đường L, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 363/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lâm Ngọc T, sinh năm 1991
Địa chỉ: Số H đường N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1984
Địa chỉ: Số A đường N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2023, Bản tự khai ngày 11/4/2023 và tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn là bà Nguyễn Lâm Ngọc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Ngọc T1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 78 ngày 19/10/2018. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, đã hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, cả hai đã ly thân được khoảng 01 (một) năm. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn với nhau, bà muốn được ổn định cuộc sống riêng nên yêu cầu Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.
- Về con chung: Bà và ông T1 có 01 (một) con chung là trẻ Phạm Minh K, sinh ngày 27/12/2019, giới tính: Nam.
Bà yêu cầu sau khi ly hôn giao cho bà trực tiếp nuôi trẻ Phạm Minh K. Bà không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng hoặc phương thức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung khác: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn là ông Phạm Ngọc T1 được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự để trình bày ý kiến, thông báo và giấy triệu tập đương sự tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Lâm Ngọc T trình bày: Bà giữ nguyên yêu cầu ly hôn và ý kiến đã trình bày nêu trên.
Bị đơn là ông Phạm Ngọc T1 được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án đến khi đưa ra xét xử và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Lâm Ngọc T và ông Phạm Ngọc T1 là Ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn là ông Phạm Ngọc T1 được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 78 ngày 19/10/2018 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Lâm Ngọc T và ông Phạm Ngọc T1 là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, bà Nguyễn Lâm Ngọc T trình bày quá trình chung sống, bà và ông T1 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, lối sống. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có khả năng hàn gắn, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1 để ổn định cuộc sống.
Xét ông Phạm Ngọc T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án nên phải chịu hậu quả của việc không tuân thủ nghĩa vụ có mặt theo sự triệu tập của Tòa án theo quy định tại khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét cuộc sống chung không đem lại hạnh phúc cho bà T, mục đích hôn nhân không đạt được, ông T1 không đến Tòa án để trình bày ý kiến và hòa giải thể hiện ông T1 không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của ông và bà T. Vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, gắn bó với nhau. Việc ly hôn là cần thiết để cả hai ổn định cuộc sống riêng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là bà Nguyễn Lâm Ngọc T để các đương sự ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Xét thấy bà Nguyễn Lâm Ngọc T và ông Phạm Ngọc T1 có 01 (một) con chung là trẻ Phạm Minh K, sinh ngày 27/12/2019, giới tính: Nam. Bà T yêu cầu sau khi ly hôn, giao cho bà trực tiếp nuôi trẻ Phạm Minh K, bà không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Ông T1 không có mặt để trình bày ý kiến và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, sau khi ly hôn giao cho bà T trực tiếp nuôi trẻ Phạm Minh K. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung khác: Bà Nguyễn Lâm Ngọc T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông Phạm Ngọc T1 không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung khác sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 200, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Lâm Ngọc T.
- Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Lâm Ngọc T được ly hôn với ông Phạm Ngọc T1.
- Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Lâm Ngọc T trực tiếp nuôi con chung là trẻ Phạm Minh K, sinh ngày 27/12/2019, giới tính: Nam. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Lâm Ngọc T về việc không yêu cầu ông Phạm Ngọc T1 cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung khác: Bà Nguyễn Lâm Ngọc T khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Phạm Ngọc T1 không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung khác sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Lâm Ngọc T phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số AA/2022/0002792 ngày 29/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Lâm Ngọc T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Lâm Ngọc T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Ngọc T1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ cho đương sự.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THA dân sự Quận 8; - UBND Phường A, Quận H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Yến |