vanban.org

Bản án 75 — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

X c định đường ranh giới giữa 02 thửa đất s 2689, tờ bản đồ s 8, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Th i Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn L và thửa đất s 863, tờ bản đồ s 8, UBND thành ph T N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N ngày…

C c bên đương sự có quyền liên hệ với Chi nh nh văn phòng đăng ký đất đai thành ph T N để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn L tự nguyện chịu 9.237.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân s ch Nhà nước, được trừ vào s tiền tạm ứng án phí 4.012.000 đồ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Lê Văn L - Nguyễn Văn N"
  • Tòa quyết gì? X c định đường ranh giới giữa 02 thửa đất s 2689, tờ bản đồ s 8, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Th i Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn L và thửa đất s 863, tờ bản đồ s 8, UBND thành ph T N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N ngày…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật t tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật t tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản n s : 75/2022/DS-PT
Ngày: 30/9/2022
V/ v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế, bà Nguyễn Minh Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Dương Thị Hương Liên, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý s 35/2022/DS - PT ngày 27/7/2022 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

Do bản án dân sự sơ thẩm s 11/2022/DS-ST ngày 14/6/2022 của Tòa án nhân dân thành ph T N, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử s 48/2022/QĐ-PT ngày 28/7/2022; giữa c c đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1969; vắng mặt

Địa chỉ: Tổ 16, phường H V T, TP. T N, tỉnh Thái Nguyên

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Phương T, sinh năm 1978; có mặt

Địa chỉ: Tổ 1, phường T V, thành ph T N, tỉnh Thái Nguyên

- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984; có mặt

Địa chỉ: Xóm C B, xã L H, huyện V N, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1962; vắng mặt

Địa chỉ: Xóm T S 1, xã Q T, TP. T N, tỉnh Thái Nguyên

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Đoàn Thị A, sinh năm 1921; vắng mặt

2. Bà Triệu Thị B, sinh năm 1963; vắng mặt

Địa chỉ: Xóm T S 1, xã Q T, TP. T N, Thái Nguyên.

3. Ông Phạm Quang Đ, sinh năm 1960; vắng mặt

4. Bà Đào Thị Kim H, sinh năm 1960; vắng mặt

Địa chỉ: Tổ 3, p. Phan Đình Phùng, TP. T N, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lê Văn L đại diện theo ủy quyền bà Trần Phương T và ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Năm 2018, ông L nhận chuyển nhượng của ông Phạm Quang Đ, bà Đào Thị Kim H thửa đất s 865, tờ bản đồ s 8, diện tích 1.240m2 và thửa s 865b, tờ bản đồ s 8, diện tích 1.003m2, tại xã Q T, thành ph T N. Ngày 23/5/2018 ông L được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ i với thửa đất s 2687, tờ bản đồ s 8, diện tích 1003m2, đất trồng cây lâu năm và giấy chứng nhận quyền nhận quyền sử dụng đất đ i với thửa đất s 865, tờ bản đồ s 8, diện tích 1240m2. Sau đó ông L làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ i với hai thửa đất nêu trên. Ngày 06/6/2018 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Lê Văn L thành thửa 2689, tờ bản đồ s 8, diện tích 2.243m2, trong đó đất ở là 1.240m2, đất trồng cây lâu năm là 1.003m2.

Theo kết quả kiểm tra của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành ph T N ngày 23/7/2020, diện tích thực tế sử dụng thiếu 535m2 so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần diện tích này do ông N là chủ sử dụng đất giáp ranh lấn chiếm xây dựng nhà trên đất.

Ông L khởi kiện đề nghị Tòa n buộc ông N trả lại 535m2 đất đã lấn chiếm. Sau khi Tòa án tiến hành đo đạc diện tích đất tranh chấp và thông b o kết qua đo phần diện tích tranh chấp theo hiện trạng là 485,3m2. Ông L đề nghị Tòa n buộc ông N trả lại diện tích đất 485,3m2 thuộc thửa 2689, tờ bản đồ s 8, xã Q T, thành ph T N.

Quá trình giải quyết tại Toà án cấp sơ thẩm ông Nguyễn Văn N trình bày:

Năm 1978, b mẹ ông là cụ Nguyễn Văn D và cụ Đoàn Thị A khai ph được diện tích đất gồm 02 thửa đất thổ cư và đất màu. Năm 2003 cụ A, cụ D chuyển nhượng 1.240m2 đất thổ cư thuộc thửa s 865 cho ông Nguyễn Viết Tâm, hai bên không có tranh chấp gì, đã chỉ m c giới và xây hàng rào. Năm 2002 trên diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 865 (nay là thửa 2689) hai cụ đã xây nhà cấp 4 diện tích 60m2 và nhà bếp khoảng 14m2 để ở. Diện tích 1.003m2 cụ D không bán cho ông Đo i, bà Hoa vì chữ ký của cụ D trong hợp đồng là giả mạo còn cụ D không biết chữ. Năm 2012, cụ D chết chỉ có mình cụ A còn sinh s ng trên đất. Ông N xác định có hộ khẩu riêng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông không nằm trong diện tích đất tranh chấp, ông L khởi kiện ông là không đúng, vì ông không phải là người lấn chiếm đất của ông L, phần tài sản là nhà cấp 4, bếp, công trình phụ là của cụ A.

Tại bản n sơ thẩm s 11/2022/DS-ST ngày 14/6/2022 của Tòa án nhân dân thành ph T N, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L về việc buộc ông Nguyễn Văn N phải trả lại 485,3m2 đất thuộc thửa 2689, tờ bản đồ s 8 xã Q T, thành ph T N, tỉnh Thái Nguyên.

Ngoài ra n sơ thẩm còn tuyên về n phí, chi phí t tụng và quyền kh ng c o của các đương sự.

Ngày 23/6/2022, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T1 kháng cáo toàn bộ bản n, đề nghị Toà n cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản n sơ thẩm để giải quyết lại hoặc sửa bản n sơ thẩm, buộc ông N phải trả cho ông L 485,3m2 đất.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Toà n cấp phúc thẩm quyết định xem xét thẩm định tại chỗ phần đất tranh chấp, vì cho rằng trên phần đất tranh chấp còn có 01 bể ph t của gia đình ông N.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ x c định: Hiện trạng phần đất tranh chấp, phần nhà cấp 4, bếp, công trình phụ, cây c i trên đất ông Nguyễn Văn N đã tự nguyện th o dỡ, di chuyển không còn tài sản nào kh c trên phần đất tranh chấp.

Ý kiến trình bày của c c đương sự: Ông Lê Văn L đã hỗ trợ 15.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn N để thu hoạch, khai th c toàn bộ cây trồng trên đất của ông L vào ngày 10/7/2022; Ngày 11/7/2022 ông L hỗ trợ cho cụ Đoàn Thị A, đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Văn N 35.000.000 đồng để ông N tháo dỡ, di chuyển toàn bộ nhà cấp 4 và công trình xây dựng trên đất.

Hiên trạng trên phần đất tranh chấp có 01 bể ph t do ông N bà B xây dựng. C c bên đương sự thoả thuận:

Ông L chuyển nhượng cho ông N bà B 115,8 m2 đất tính từ ranh giới theo bản đồ địa chính về phía phần đất của ông L với gi thoả thuận 100 triệu đồng, ông L đã nhận đủ s tiền trên vào ngày 11/7/2022. Ông N, bà B được sử dụng 115,8 m2 đất thuộc thửa 2689, tờ bản đồ s 8 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Th i Nguyên cấp cho ông Lê Văn L, có sơ đồ chi tiết kèm theo.

Tại phiên toà phúc thẩm, ông N, bà B và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kh c đều vắng mặt. Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử x c định ranh giới giữa hai thửa đất theo thoả thuận của c c bên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử và c c đương sự tuân thủ đúng t tụng. Về đường l i giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử sửa n sơ thẩm, x c định lại đường ranh giới giữa hai thửa đất theo thoả thuận của các bên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện VKS ph t biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kh ng c o, được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật t tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung kháng cáo của nguyên đơn, thấy:

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T1 có đơn kh ng c o, đề nghị Toà n cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản n sơ thẩm để giải quyết lại hoặc sửa bản n sơ thẩm, buộc ông N phải trả cho ông L 485,3m2 đất. Qu trình c c bên tranh chấp và hoà giải tại UBND xã Q T, bản thân ông Nguyễn Văn N đều có hành vi cản trở việc sử dụng đất đ i với phần diện tích đất tranh chấp được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Th i Nguyên cấp cho ông Lê Văn L. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thấy có một phần tài sản là bể ph t của ông Nguyễn Văn N trên phần đất tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn L.

Toà n cấp sơ thẩm cho rằng nguyên đơn không có quyền khởi kiện đ i với bị đơn ông Nguyễn Văn N là không chính xác.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông N bà B và cụ A (đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Văn N) đã thoả thuận nhận s tiền hỗ trợ 50.000.000 đồng để di chuyển toàn bộ cây c i, công trình xây dựng trên phần đất tranh chấp trong thửa đất được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Th i Nguyên cấp cho ông Lê Văn L. Ngoài ra c c bên còn thoả thuận: Ông L chuyển nhượng cho ông N bà B 115,8 m2 đất tính từ ranh giới theo bản đồ địa chính về phía phần đất của ông L với gi thoả thuận 100 triệu đồng, ông L đã nhận đủ s tiền trên vào ngày 11/7/2022. Ông N, bà B được sử dụng 115,8 m2 đất thuộc thửa 2689, tờ bản đồ s 8 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Th i Nguyên cấp cho ông Lê Văn L, có sơ đồ chi tiết kèm theo.

Hội đồng xét xử thấy, sự thoả thuận của c c đương sự là tự nguyện, không tr i ph p luật, đạo đức xã hội. Do ông N, bà B và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng c o của nguyên đơn, sửa n sơ thẩm, x c định lại ranh giới giữa hai thửa đất theo thoả thuận của c c bên đương sự.

Về n phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 147, Điều 148 Bộ luật t tụng dân sự, Hội đồng xét xử x c định lại nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với diện tích đất theo ranh giới c c bên đã x c định.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Về chi phí t tụng: Ông Lê Văn L tự nguyện chịu 10.000.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản tại giai đoạn xét xử sơ thẩm và 5.000.000 đồng chi phí thẩm định lại tại cấp phúc thẩm (đã thực hiện xong)

Từ những phân tích nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 300 Bộ luật t tụng dân sự; Chấp nhận kháng cáo của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; sửa bản n dân sự sơ thẩm s 11/2022/DS-ST ngày 14/6/2022 của Tòa án nhân dân thành ph T N, tỉnh Thái Nguyên;

Căn cứ Điều 164, Điều 166, Điều 175 Bộ luật dân sự; Điều 166, 203 Luật Đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. X c định đường ranh giới giữa 02 thửa đất s 2689, tờ bản đồ s 8, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Th i Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn L và thửa đất s 863, tờ bản đồ s 8, UBND thành ph T N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N ngày 06/8/2002 là c c đoạn thẳng gồm c c điểm từ điểm: 5,4,3,6,22 (có sơ đồ chi tiết kèm theo).

2. C c bên đương sự có quyền liên hệ với Chi nh nh văn phòng đăng ký đất đai thành ph T N để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định.

3. Về n phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn L tự nguyện chịu 9.237.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân s ch Nhà nước, được trừ vào s tiền tạm ứng án phí 4.012.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai s 0003522 ngày 06/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph T N, còn phải nộp 5.225.500 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông Lê Văn L 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai s 0001306 ngày 27/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph T N.

4. Về chi phí t tụng: Ông Lê Văn L tự nguyện chịu 10.000.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản tại giai đoạn xét xử sơ thẩm và 5.000.000 đồng chi phí thẩm định lại tại cấp phúc thẩm (đã thực hiện xong)

Trường hợp Bản n được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo qui định tại c c Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành n được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ