- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Văn H và Lý Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2026/HNGĐ-ST. Ngày: 11-02-2026. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng.
Bà Trần Thị Ngọc Hân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 510/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 88/2026/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trương Văn H, sinh năm 1989.
CCCD số: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Khu phố G, phường L, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Lý Thị T, sinh năm 1990.
CMND số: xxxxxxxxx.
Địa chỉ: Khu phố G, phường L, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh H xin vắng mặt và chị T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn và các lời trình bày tại tòa nguyên đơn anh Trương Văn H trình bày:
Anh và chị Lý Thị T sống chung vào năm 2010, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang (nay là phường L, tỉnh
- 2 - Đồng Tháp). Sau khi cưới anh chị sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, thường xuyên cải vả, mạnh ai nấy sống, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Anh và chị T đã sống ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn lại được.
Về quan hệ tình cảm: Anh yêu cầu ly hôn với chị Lý Thị T.
Về con chung: Có 02 con tên Trương Trung H1, sinh ngày 09/02/2011 và Trương Mỹ D, sinh ngày 22/12/2014, hiện hai con đang sống với anh H. Khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con và anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn chị Lý Thị T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị T vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H về ly hôn, về nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn anh Trương Văn H yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết con chung nên Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại phường L, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét nguyên đơn anh Trương Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn chị Lý Thị T đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh H và chị T.
- 3 -
Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Về tình cảm: Anh Trương Văn H và chị Lý Thị T sống chung năm 2010, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, thị xã G, tỉnh Tiền Giang (nay phường L, tỉnh Đồng Tháp) là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Anh H xin ly hôn với chị T với lý do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, thường xuyên cải vả, mạnh ai nấy sống, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, anh H và chị T đã sống ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Anh H xin vắng mặt và vẫn giữ yêu cầu ly hôn với chị T; phía chị T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa cho thấy chị T không có thành ý cứu vãn cuộc hôn nhân giữa anh chị. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị T không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của anh Trương Văn H là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung: Xét yêu cầu của anh H được tiếp tục nuôi cháu Trương Trung H1, sinh ngày 09/02/2011 và Trương Mỹ D, sinh ngày 22/12/2014. Hội đồng xét xử xét thấy cháu H1, cháu D hiện đang sống với anh H đã ổn định về chỗ ở, về tâm lý; đồng thời cháu H1, cháu D có nguyện vọng muốn được sống với anh H. Phía chị T không có văn bản ý kiến trình bày ý kiến về việc nuôi con chung cho thấy chị T cũng thống nhất với hiện trạng nuôi con chung như hiện tại. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu H1, cháu D cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Anh H khai không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Anh H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Trương Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- 4 -
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn H.
Về tình cảm: Anh Trương Văn H được ly hôn với chị Lý Thị T.
Về con chung: Giao cháu Trương Trung H1, sinh ngày 09/02/2011 và Trương Mỹ D, sinh ngày 22/12/2014 cho anh Trương Văn H nuôi dưỡng cho đến khi cháu H1 và cháu D đủ 18 tuổi, lao động được.
Chị Lý Thị T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
2. Về án phí: Anh Trương Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009207 ngày 27/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, do vậy anh H đã nộp xong án phí.
3. Báo đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 2; - CQ thực hiện việc đăng ký kết hôn; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Thị Xuân |