- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Duy Q - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Duy Q phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2025/HS-ST Ngày: 13-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguy n Thị Hoàng Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh – Cán bộ hưu trí.
Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Duy Q; Sinh năm 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: 20/20B, tổ 11, khu phố 6, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Bùi Văn Hào, sinh năm 1960; Họ tên mẹ: Trần Thị Thanh, sinh năm 1959; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị bắt ngày 04/5/2025, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B. (Bị cáo có mặt).
* Bị hại:
1/ Bà Nguy n Thị T, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số 27, đường Nguy n Bảo Đức, tổ 1, khu phố 6, phường T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).
2/ Ông Vũ Ngọc T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Số 38/42, hẻm 38, đường Đặng Đức Thuật, khu phố 6, phường T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Duy Q, chị Nguy n Thị T và anh Vũ Ngọc T cùng sinh sống tại: Tổ 11, khu phố 6, phường T, TP. B, tỉnh Đồng Nai (nay là: Hẻm 38, đường Đặng Đức Thuật, Phường T, tỉnh Đồng Nai).
Khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 04/05/2025, sau khi uống rượu bia tại nhà, Q lấy tại phòng bếp 01 cây kéo bằng kim loại dài 20cm bỏ vào túi quần bên phải và cầm theo 01 cây sắt đường kính 2,5cm, dài khoảng 35cm (bên trong rỗng), đi đến trước cửa nhà chị Thanh (số 27, hẻm 38, đường Đặng Đức Thuật). Đến nơi, Q sử dụng cây sắt và kéo để đập và dùng chân đá làm hư hỏng kính chiếu hậu và kính chắn gió bên trái (phía tài xế), của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10, biển số: 60A - 417.04 của chị Thanh đang để trong sân nhà. Sau đó, Q tiếp tục nhặt 02 viên gạch ở bên đường, ném vào cửa nhà của chị Thanh (căn nhà sử dụng để kinh doanh dịch vụ làm tóc), làm bể 02 cánh cửa bằng kính, mỗi cánh có kích thước: 210cm x 80cm x 0,5cm.
Sau đó, Q vứt lại 02 viên gạch và cây sắt, rồi nhặt bên đường 01 cây xà beng bằng kim loại đường kính 02cm, dài 41cm, đi đến nhà anh T (số 38/42, hẻm 38, đường Đặng Đức Thuật). Tại đây, Q dùng xà beng đập phá làm hư hỏng 01 bộ chuông cửa màn hình hiệu HikVision DS ở cổng nhà anh T, rồi rời đi. Sự việc xảy ra, anh T đã trình báo Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai xử lý theo quy định.
Vật chứng:
- 01 (một) xe ô tô hiệu Huyndai i10, biển số: 60A - 417.04 của chị Nguy n Thị T, bị hư hỏng một số bộ phận: gương chiếu hậu bên trái, kính chắn gió bên trái. Sau khi ghi nhận dấu vết hư hỏng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã trả lại xe cho chị Thanh.
- 01 (một) 01 cây sắt bằng kim loại màu bạc có đường kính 2,5 cm, dài 35cm, bên trong rỗng; 01 (một) cây kéo lưỡi bằng kim loại màu bạc, cán nhựa màu xanh dài 20cm; 01 (một) cây xà beng bằng kim loại màu đen, đường kính 02cm, dài 41cm,, bị can Bùi Duy Q sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã thu giữ.
- 02 (hai) viên gạch màu đỏ, bị can sử dụng để ném làm hư hỏng cửa kính và làm gạch bị vỡ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng nai không thu giữ được.
- 01 bộ chuông cửa màn hình hiệu HikVision DS, bị can đập phá làm hư hỏng của anh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã trả lại cho anh T.
Kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTS, ngày 05/05/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hoà kết luận: “01 xe ô tô biển số 60A - 417.04 bị hư hỏng một số bộ phận trên xe, trị giá 4.550.000đ (Bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). 01 (một) chuông cửa màn hình HikVision DS, trị giá 2.975.000đ (Hai triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)”.
Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS, ngày 05/05/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hoà kết luận: “02 tấm kính bị vỡ kích thước 210cm x 80cm, trị giá 840.000đ (Tám trăm bốn mươi nghìn đồng)”.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguy n Thị T đã nhận được số tiền bồi thường 9.100.000đ (chín triệu một trăm nghìn đồng) và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Anh Vũ Ngọc T không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Trong quá trình điều tra bị cáo đã nhận tội theo như nội dung cáo trạng mô tả và không có ý kiến hay khiếu nại kết luận định giá nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo và không có ý kiến về kết luận giám định.
Tại Bản cáo trạng số 41/CT-VKSBH ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo Bùi Duy Q về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Duy Q mức án từ 12 tháng đến 14 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tuyên: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) cây sắt bằng kim loại màu bạc, có đường kính 2,5 cm, dài 35cm, bên trong rỗng; 01 (một) cây kéo lưỡi bằng kim loại màu bạc, cán nhựa màu xanh dài 20cm; 01 (một) cây xà beng bằng kim loại màu đen, đường kính 02cm, dài 41cm, bị cáo Bùi Duy Q sử dụng làm công cụ phạm tội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết lỗi và rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Duy Q đã khai nhận: Bùi Duy Q là hàng xóm và có xảy ra mâu thuẫn với chị Nguy n Thị T và anh Vũ Ngọc T.
Khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 04/05/2025, tại nhà số 27, hẻm 38, đường Đặng Đức Thuật, Phường T, tỉnh Đồng Nai. Q đã có hành vi đập phá làm hư hỏng các tài sản của chị Thanh gồm: Kính chiếu hậu, kính chắn gió bên trái (phía tài xế), của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10, biển số: 60A - 417.04 và 02 cánh cửa kính tại nhà của chị Thanh. Tài sản bị hư hỏng tại nhà chị Thanh có tổng trị giá 5.390.000đ (Năm triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).
Sau đó, tại nhà số 38/42, hẻm 38, đường Đặng Đức Thuật, Q tiếp tục có hành vi sử dụng xà beng, đập phá làm hư hỏng 01 bộ chuông cửa và camera hiệu HikVision, trị giá 2.975.000đ (Hai triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) của anh Vũ Ngọc T.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Q bị khởi tố, điều tra xử lý.
Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời khai của bị hại, người người làm chứng; đồng thời, bị cáo cũng đồng ý với các Kết luận định giá tài sản, không có khiếu nại, thắc mắc gì. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bùi Duy Q phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng số 41/CT-VKSBH ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức pháp luật, nhưng chỉ vì tức giận vô cớ, bị cáo đã cố ý đập phá, hủy hoại tài sản của chị Thanh và anh T. Điều này thể hiện việc bị cáo coi thường pháp luật, gây mất an ninh trật tự, trị an xã hội tại địa phương, đồng thời gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần thiết xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm vào tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52;
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục thiệt hậu quả cho bị hại; cha của bị cáo là ông Bùi Văn Hào là bộ đội xuất ngũ, có thời gian tham gia làm nhiệm vụ quốc tế tại Cam – pu – chia được tặng Huân chương kháng chiến, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đến 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu chứng cứ và lời khai tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) cây sắt bằng kim loại màu bạc, có đường kính 2,5 cm, dài 35cm, bên trong rỗng; 01 (một) cây kéo lưỡi bằng kim loại màu bạc, cán nhựa màu xanh dài 20cm; 01 (một) cây xà beng bằng kim loại màu đen, đường kính 02cm, dài 41cm, bị cáo Bùi Duy Q sử dụng làm công cụ phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguy n Thị T đã nhận được số tiền bồi thường 9.100.000đ (chín triệu một trăm nghìn đồng) và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm; anh Vũ Ngọc T cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Bùi Duy Q phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Xử phạt bị cáo Bùi Duy Q mức án: 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2025.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) cây sắt bằng kim loại màu bạc, có đường kính 2,5 cm, dài 35cm, bên trong rỗng; 01 (một) cây kéo lưỡi bằng kim loại màu bạc, cán nhựa màu xanh dài 20cm; 01 (một) cây xà beng bằng kim loại màu đen, đường kính 02cm, dài 41cm, bị cáo Bùi Duy Q sử dụng làm công cụ phạm tội. (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 338/QĐ-VKSBH ngày 17/7/2025 và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/7/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố B).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và cácc bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1); - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai (2); - Cơ sở giam giữ (2); - Thi hành án hình sự (5); - Bị cáo (1); - Đương sự (2); - Lưu VP - Hồ sơ vụ án (3). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hoàng Phương |