vanban.org

Bản án 75/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Cẩm X về việc xin ly hôn anh Ngô Thái N.

Về con chung là Ngô Phương Ngân, sinh ngày 22/12/2002 và Ngô Thúy Vy, sinh ngày 15/8/2006. Hiện các con đã thành niên, tự lao động kiếm sống được nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, chị Trần Thị Cẩm X không đặt ra yêu cầu mà tự thỏa thuận với anh Ngô Thái N nên không đặt ra xem xét, giải quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Cẩm X về việc xin ly hôn anh Ngô Thái N.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08 – 8 – 2025
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Trọn.

2. Ông Đào Việt Khái.

- Thư ký phiên toà: Ông Châu Sơn Ca – Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3

- Cà Mau.

Ngày 08 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 216/2025/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Cẩm X, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp Tân Quảng A, xã N, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Ngô Thái N, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp Tân Quảng A, xã N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về hôn nhân, chị Trần Thị Cẩm X và anh Ngô Thái N chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng T, huyện P, tỉnh Cà Mau nay thuộc Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu giữa vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng thời gian sau, theo chị X trình bày giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do anh N ghen tuông vô cớ, thường hay xúc phạm và đánh đập chị. Sự việc cũng được gia đình hai bên hòa giải nhưng không hàn gắn được, hiện chị và anh N đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2025 cho đến nay nên chị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung, chị Trần Thị Cẩm X khai chị và anh Ngô Thái N chung sống với nhau có 02 người con chung là Ngô Phương Ngân, sinh ngày 22/12/2002 và Ngô Thúy Vy, sinh ngày 15/8/2006. Hiện các con đã thành niên và tự lao động kiếm sống được nên khi ly hôn, chị không đặt ra yêu cầu gì về con.

Về tài sản chung, chị Trần Thị Cẩm X khai giữa chị với anh Ngô Thái N tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, chị Trần Thị Cẩm X khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Ngô Thái N (bị đơn), tuy đã được Thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Cẩm X (nguyên đơn). Riêng chị X đã có lời khai và nộp đơn xin xét xử vắng mặt vào ngày 16/6/2025.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Riêng nguyên đơn đã có lời khai và nộp đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt với lý do bận công việc làm thuê nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của nguyên đơn và tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của các đương sự được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do bị đơn không trực tiếp đến Tòa cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên lời trình bày của nguyên đơn về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian sống ly thân được chấp nhận. Cũng chính từ mâu thuẫn nêu trên, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2025 cho đến nay. Do đó, có căn cứ để nhận định tình trạng hôn nhân giữa các đương sự đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn là có cơ sở, được chấp nhận.

Về con chung là Ngô Phương Ngân, sinh ngày 22/12/2002 và Ngô Thúy Vy, sinh ngày 15/8/2006. Hiện các con đã thành niên và tự lao động kiếm sống được nên khi ly hôn, các đương sự không đặt ra yêu cầu gì về con. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nguyên đơn không đặt ra yêu cầu mà giữa nguyên đơn với bị đơn tự thỏa thuận với nhau nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về nợ chung, nguyên đơn khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Cẩm X về việc xin ly hôn anh Ngô Thái N.

- Về con chung là Ngô Phương Ngân, sinh ngày 22/12/2002 và Ngô Thúy Vy, sinh ngày 15/8/2006. Hiện các con đã thành niên, tự lao động kiếm sống được nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, chị Trần Thị Cẩm X không đặt ra yêu cầu mà tự thỏa thuận với anh Ngô Thái N nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung, chị Trần Thị Cẩm X khai không có, nên không đặt ra xem xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Trần Thị Cẩm X phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 16/6/2025, chị X đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0004230 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ