vanban.org

Bản án 75/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H.

Buộc chị Lê Thị C pH chịu trách nhiệm trả cho anh Trần Văn H số tiền 11.000.000 đồng. Kể từ ngày anh H có đơn yêu cầu thi hành án nếu chị C chậm thi hành đối với phần tiền thì còn pH trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "HAI+ CUC"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/DS-ST
Ngày: 11/4/2025
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông HUỲNH VĂN DŨNG

2. Ông NGUYỄN PHƯỚC TƯỜNG

- Thư ký phiên tòa: Ông NGUYỄN TRƯỜNG AN - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Bà TRẦN HƯƠNG LINH - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2025/TLST–DS ngày 09 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1979 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Chị Lê Thị C, sinh năm 1978 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 09/01/2025 và lời khai tại Tòa, nguyên đơn ông Trần Văn H trình bày:

Do chỗ bà con và chị C cần tiền lo gia đình nên ngày 11/6/2024, chị C có hỏi vay của anh H số tiền 11.000.000 đồng, lãi suất thoả thuận 1,5%/tháng, thời hạn vay 02 tháng, có lập biên nhận làm tin. Sau khi vay, chị C không trả vốn lãi gì cho anh, kéo dài mãi đến nay.

Anh H yêu cầu chị C trả số tiền vốn 11.000.000 đồng, tiền lãi phát sinh với mức 1,5%/tháng từ ngày 11/6/2024 đến ngày xét xử.

Theo biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 20/01/2025, bị đơn chị Lê Thị C trình bày:

Chị thống nhất trả số tiền 11.000.000 đồng cho anh H nhưng xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng đến hết nợ. Nhưng chị cho rằng số tiền này là tiền lãi chứ không pH tiền vốn.

Tại phiên toà, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền 11.000.000 đồng, không yêu cầu lãi suất phát sinh. Bị đơn vẫn giữ ý kiến như trên.

Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và của các đương sự chấp hành đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Hiện tại thì chưa phát hiện sai sót gì để kiến nghị khắc phục. Về nội dung: Tại phiên toà, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền 11.000.000 đồng, không yêu cầu lãi phát sinh là phù hợp luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền còn thiếu là 11.000.000 đồng cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Xét, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Về nội dung:

[2] Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, tại phiên tòa, nguyên đơn đã khẳng định thực tế bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 11.000.000 đồng, có lập biên nhận cho nguyên đơn làm tin. Bị đơn cho rằng đây là tiền lãi không phài tiền vốn vay nhưng vẫn thống nhất trả, xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng đến hết nợ.

Việc xin trả dần của bị đơn là không có cơ sở và không được phía nguyên đơn đồng ý.

Việc bị đơn cho rằng số tiền 11.000.000 đồng là tiền lãi, không pH tiền vốn thì bị đơn không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào thuyết phục để chứng minh cũng như nguyên đơn xác định hoàn toàn không có việc này. Nên lời trình bày của bị đơn là không có căn cứ.

Từ đó, Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền 11.000.000 đồng theo quy định pháp luật.

[3] Về án phí: Bị đơn pH chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

[4] Xét ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 92, khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357, 463, 466, 468, 469, 470 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H.

Buộc chị Lê Thị C pH chịu trách nhiệm trả cho anh Trần Văn H số tiền 11.000.000 đồng.

Kể từ ngày anh H có đơn yêu cầu thi hành án nếu chị C chậm thi hành đối với phần tiền thì còn pH trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về án phí:

Chị C pH chịu 550.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho anh H số tiền 318.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0016395 ngày 09/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.

Về quyền kháng cáo:

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ