vanban.org

Bản án 75/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 26/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Cưỡng oạt tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Áp d ng: điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phan Văn S phạm tội cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Cưỡng oạt tài sản”.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QU N TH T N T
THÀNH PH CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HSST
Ngày: 26 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QU N TH T N T - THÀNH PH CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Viết Ngoan

2. Bà Trần Thúy Kiên

Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân qu n

Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân qu n Th t t - thành ph Cần Thơ tham

gia phiên toà: Ông Đặng Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại tr s T a án nh n d n qu n Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, ti n hành xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 76/2024/HSST ngày 31 tháng 7 năm 2024, theo Quy t định đưa v án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn S, sinh năm 1992; Giới tính: Nam; Nơi hiện tại: khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Không (tại phiên t a khai theo đạo Ph t); Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Phạm Văn D

(ch t); Họ tên mẹ: Trần Thị Lệ H - sinh năm 1972 (sống); Vợ: Nguyễn Thị Cẩm T (không còn sống chung); Con: Nguyễn Gia H1 - sinh năm 2014; Tiền sự: chưa;

Tiền án: Ngày 16/01/2020, bị Toà án nh n d n thành phố Long Xuyên - tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/01/2022.

Bị áp d ng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 02/5/2024 cho đ n nay, tại Cơ quan tạm giữ, tạm giam - Công an qu n T. Có mặt.

Bị hại: Bà Trần Thị N – sinh năm 1992. Vắng mặt

Cư trú: Khu phố P, P. Q, Tp ., tỉnh Thanh Hóa.

gười bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại Trần Thị N:

Ông Đặng Trúc P – sinh năm 1985. Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố C. Có mặt

gười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị Lệ H – sinh năm 1972. Có mặt

Cư trú: Khóm T, P. M, Tp ., tỉnh An Giang.

- Ông Trần Bé N1 – sinh năm 1979. Vắng mặt

Cư trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang.- - Ông Nguyễn Văn H2 – sinh năm 1968. Vắng mặt

Cư trú: Ấp V, xã V, huyện V, Tp ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

ua các tài iệu c trong h sơ vụ án và quá tr nh t h i, tranh u n tại phiên t a, nội dung vụ án ược t m t t như sau:

Do bà Trần Thị N có vay số tiền 3.000.000 đồng của bà Trần Thị Lệ H, bà N đã trả cho bà H được 600.000 đồng, số c n lại chưa có khả năng trả, nên bà H từng nói với Phạm Văn S (là con ruột bà H) n u có gặp bà N đ u thì báo cho bà H bi t, để đ i tiền nợ.

Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 21/11/2023, Phạm Văn S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 67B2-343.31 ch theo người bạn có tên là S (chưa rõ họ tên, địa chỉ) từ thành phố L đ n Kênh A, V để mua ma tuý sử d ng. Trên đường đi đ n khu vực T, phường T, qu n T, thành phố Cần Thơ, Phạm Văn S phát hiện Trần Thị N đang điều khiển xe điện ba bánh đi bán vé số ki n thi t. Lúc này, S dừng xe và bước xuống chặn đầu xe của N, Văn S thấy trên rổ xe điện của N có cây gắn 75 tờ vé số ki n thi t nên S lấy cây vé số cầm trên tay m c đích không cho bà N bỏ chạy. S nói với bà N rằng “ Tiền thi u ổng mày tính sao, mày đi về trển gặp ổng tính với ổng đi”; bà N nói với S để bán h t vé số rồi tính; nhưng S không đồng ý. Phạm Văn S lấy cây gắn các tờ vé số ki n thi t của bà N đưa cho người bạn tên S. Sau đó, Phạm Văn S gọi điện thoại về cho bà H thông báo đã gặp được bà N và nói bà N không có tiền trả nợ, chỉ có vé số ki n thi t. Bà H trả lời n u N không có tiền thì lấy vé số để trừ nợ. Sau khi nghe điện thoại Phạm Văn S chửi thề và nói lấy vé số để cấn trừ nợ, nhưng N không đồng ý. Phạm Văn S ti p t c dùng những lời lẽ thô t c, khi m nhã để uy hi p tinh thần làm bà N hoãng sợ, nhằm m c đích chi m đoạt 75 tờ vé số ki n thi t của bà N. S nói với người bạn là S gom h t 75 tờ vé số ki n thi t được gắn trên c y đưa cho Phạm Văn S do hoảng sợ nên N không dám chống cự mà ôm chân Phạm Văn S, năn nỉ xin trả lại 75 tờ vé số nhưng Phạm Văn S không đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 67B2-343.31 ch người bạn tên S kéo lê bà N khoảng 01 mét làm bà N phải chịu buông tay. Phạm Văn S điều khiển xe môtô ch bạn tên S đ n xã V, huyện V để mua ma túy sử d ng. Trong lúc ngồi đợi người bạn tên S mua ma túy thì Phạm Văn S bị Công an phường T đ n mời về tr s .

Quá trình làm việc, Phạm Văn S thừa nh n hành vi và giao nộp các tang v t, đồ v t (Bút l c 38):

1. 02 (hai) tờ Vé số ki n thi t đài B n Tre dãy số “132321” loại K47-T11 m ngày thứ ba 21-11-2023.

2. 11 (mười một) tờ Vé số ki n thi t đài B n Tre dãy số “461694” loại K47-T11 m ngày thứ ba 21-11-2023.

3. 11 (mười một) tờ Vé số ki n thi t đài Bạc Liêu dãy số “592805” loại T11-K3 m ngày thứ ba 21-11-2023.

4. 09 (chín) tờ Vé số ki n thi t đài Bạc Liêu dãy số “073741” loại T11-K3 m ngày thứ ba 21-11-2023.

5. 08 (tám) tờ Vé số ki n thi t đài Bạc Liêu dãy số “645914” loại T11-K3 m ngày thứ ba 21-11-2023.

6. 06 (sáu) tờ Vé số ki n thi t đài Bạc Liêu dãy số “537623” loại T11-K3 m ngày thứ ba 21-11-2023.

7. 08 (tám) tờ Vé số ki n thi t đài Bạc Liêu dãy số “187032” loại T11-K3 m ngày thứ ba 21-11-2023.

8. 09 (chín) tờ Vé số ki n thi t đài Bạc Liêu dãy số “092878” loại T11-K3 m ngày thứ ba 21-11-2023.

9. 10 (mười) tờ Vé số ki n thi t đài Bạc Liêu dãy số “209187” loại T11-K3 m ngày thứ ba 21-11-2023.

10. 01 (một) tờ Vé số ki n thi t đài Bạc Liêu dãy số “187096” loại T11-K3 m ngày thứ ba 21-11-2023.

- Xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát số: 67B2-343.31.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia số loại 105 màu đen, IMEI: 353846503704818, gắn sim số: 0935.803.306.

Tại Công văn số 234/XSKT-TCHC ngày 5/7/2024 của Công ty TNHH MTV xổ số ki n thi t tỉnh B và Công văn số 20/XSKT-TCHC ngày 3/7/2024 của Công ty TNHH MTV xổ số ki n thi t tỉnh B. Xác định số tiền niêm y t trên mỗi tờ vé số m thư ng ngày 21/11/2023 là 10.000 đồng. (Bút l c 40 – 44).

Trong quá trình điều tra, Phạm Văn S thành khẩn khai báo, thừa nh n hành vi phạm tội của mình, phù hợp với những chứng cứ đã được thu th p. (Bút l c 96 đ n 107).

Quá trình điều tra, Phạm Văn S đã bồi thường cho bà Trần Thị N số tiền 750.000 đồng; bà N không yêu cầu bồi thường gì thêm. Tại Cáo trạng Số 79/CT-VKS ngày 30 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nh n d n qu n T - Tp ., truy tố Phạm Văn S về tội "cưỡng oạt tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 170 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên t a, bị cáo thừa nh n toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:

Về trách nhiệm h nh sự: Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Phạm Văn S từ 03 (ba) năm đ n 04 (bốn) năm tù.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

Về trách nhiệm dân sự, ử ý v t chứng:

+ Công nh n bị cáo Phạm Văn S đã bồi thường cho bị hại Trần Thị N số tiền tương đương giá trị 75 tờ vé số ki n thi t (không trúng thư ng) là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn ng) xong, bà N không yêu cầu bồi thường gì thêm.

+ Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số loại 105 màu đen kèm xác sim, do không liên quan hành vi phạm tội.

+ Trả lại bà Trần Thị Lệ H 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 67B2-343.31, do bà H không có ý cho bị cáo lấy xe đi cưỡng đoạt tài sản.

* gười bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại tranh lu n:

Thống nhất Cáo trạng của viên kiểm sát. Bị hại là người bị khuy t t t nặng, nên hành vi của bị cáo không những xâm hại về quyền s hữu tài sản mà c n x m phạm đ n quyền lợi của người khuy t t t được pháp lu t bảo vệ. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên chấp nh n. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nh n bồi thường xong và không có yêu cầu gì khác.

* Bị cáo n i lời nói sau c ng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NH N ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG X T X :

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh lu n tại phiên t a, Hội đồng xét xử nh n thấy như sau:

[1] Về hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an qu n T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n qu n Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a không có người nào khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Trong điều tra và tại phiên t a, bị cáo đã thừa nh n hành vi phạm tội, lời nh n tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu th p trong quá trình điều tra.

Như v y, có cơ s xác định vào ngày ngày 21 tháng 11 năm 2023, Phạm Văn S có hành vi đe dọa thể hiện bằng thái độ, lời nói và hành động uy hi p tinh thần bà Trần Thị N để chi m đoạt trái phép 75 tờ vé số ki n thi t. Tại Công văn số 234/XSKT-TCHC ngày 5/7/2024 của Công ty TNHH MTV xổ số ki n thi t tỉnh B và Công văn số 20/XSKT-TCHC ngày 3/7/2024 của Công ty TNHH MTV xổ số ki n thi t tỉnh B, xác định số tiền niêm y t trên mỗi tờ vé số m thư ng ngày 21/11/2023 là 10.000 đồng, tổng giá trị 10 tờ vé số ki n thi t là 750.000 đồng. Hành vi mà Phạm Văn S thực hiện đã trực ti p xâm phạm đ n quyền s hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp lu t bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực ti p. Bị hại là người bị khuy t t t v n động mức độ nặng nên không có khả năng tư vệ. Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo Phạm Văn S về tội “cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 178 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm đối với xã hội, xâm hại đ n quyền s hữu tài sản của người khác được pháp lu t bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực nh n thức và điều chĩnh hành vi xử sự của mình, nhưng vì sự bộc phát nhất thời đã dẫn đ n hành động sai trái gây thiệt hại tài sản của người khác, nên phải gánh chịu h u quả pháp lý. Hành động của bị cáo thể hiện bản tính hung hản. Bản thân bị cáo đã từng có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, lại ti p t c phạm tội cưỡng đoạt tài sản, cho thấy ý thức sửa đổi là rất kém. Bị cáo phải chịu tình ti t tăng nặng là tái phạm. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo d c và ph ng ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại xong. Vì v y, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Không cần thi t áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với người tên “S” đi theo bị cáo lúc thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản, do bị cáo không bi t rõ họ, tên, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra không ti n hành làm việc được nên không đủ cơ s để xử lý. Đối với bà Trần Thị Lệ H chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự với vai tr đồng phạm trong v án này.

[6] Về trách nhiệm d n sự, xử lý v t chứng: Như đại diện Viện kiểm sát nh n định và đề nghị là phù hợp, nên chấp nh n. [7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp lu t.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Cưỡng oạt tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Áp d ng: điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2024.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

2. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Áp d ng Điều 48 của Bộ lu t Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015.

+ Công nh n bị cáo Phạm Văn S đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị N2 số tiền tương đương giá trị 75 tờ vé số ki n thi t (không trúng thư ng) là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn ng) xong, bà N2 không yêu cầu bồi thường gì khác.

+ Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số loại 105 màu đen kèm xác sim.

+ Trả lại bà Trần Thị Lệ H 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 67B2-343.31.

3. Về án phí: Áp d ng Điều 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn ng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Áp d ng Điều 331, 333 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015;

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười ăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên t a được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười ăm) ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm y t theo quy định pháp lu t.

TM. HỘI Đ NG XÉT X SƠ THẨM

Cỡ chữ