- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thi Thu Tr - Nguyễn Văn L (Ly hôn, nuôi con)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11/09/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lữ Kim Hằng
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiếu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Thái Học, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 09 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 223/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 05 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 08 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lê Thị Thu T, sinh năm: 1986.
ĐKTT và nơi cư trú: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1987.
ĐKTT và nơi cư trú: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
(Chị T và anh L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Lê Thị Thu T trình bày: Trên cơ sở tự nguyện, chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Văn L tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai vào ngày 03/01/2011. Đây là hôn nhân lần đầu của anh chị. Quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xảy ra cãi vã, từ tháng 7/2023 anh chị đã sống ly thân cho đến nay. Nay vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
Về con chung: Anh chị có 02 người con chung là cháu Nguyễn Tuấn P, sinh ngày 09/11/2011 và cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 19/10/2015, hiện đang sống cùng anh L. Nay chị T giao các con chung là cháu P và cháu Như Ý cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chị Trung cấp D nuôi con chung hành tháng với số tiền 1.000.000 đồng/cháu.
Về tài sản chung và nợ chung: chị T trình bày không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Theo bản tự khai bị đơn anh Nguyễn Văn L trình bày: Anh L thống nhất với trình bày của chị T về quá trình hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Anh L thừa nhận vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, đã sống ly thân hơn 01 năm nay, nên anh L đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: anh L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là cháu Nguyễn Tuấn P, sinh ngày 09/11/2011 và cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 19/10/2015 và đồng ý với mức cấp dưỡng nuôi con mà chị T đề nghị.
Về tài sản chung và nợ chung: anh L trình bày không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát huyện C, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành pháp luật và nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.
Về đường lối giải quyết: áp dụng các điều 51, 53, 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Lê Thị Thu T ly hôn với anh Nguyễn Văn L; về con chung: giao cháu Nguyễn Tuấn P, sinh ngày 09/11/2011 và cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 19/10/2015 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với số tiền 1.000.000 đồng/cháu; về tài sản chung và nợ chung: đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết; về án phí sơ thẩm: theo quy định pháp luật.
Kiến nghị khắc phục: không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Lê Thị Thu T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con với anh Nguyễn Văn L. Anh L có nơi cư trú tại ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ kiện này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng trong quá trình chuẩn bị xét xử chị T và anh L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Văn L tự nguyện chung sống và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 03/01/2011 nên xác định là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Qua quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ: Theo trình bày của nguyên đơn và bị đơn xác định quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hằng ngày, nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Nay chị T và anh L đều xác định là vợ chồng không còn tình cảm, đã sống ly thân hơn 01 năm nay và thống nhất ly hôn. Từ đó xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân trên thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Thu T là có cơ sở nên chấp nhận.
- Về con chung: chị T yêu cầu giao cháu Nguyễn Tuấn P, sinh ngày 09/11/2011 và cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 19/10/2015 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng và chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với số tiền 1.000.000 đồng/cháu. Anh L cũng thống nhất với yêu cầu của chị T về con chung. Do đó có căn cứ để chấp nhận thoả thuận của anh chị.
- Về tài sản chung và nợ chung: chị T và anh L đều thống nhất khai không có, không yêu cầu, nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: chị Lê Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 118 và 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu T.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Văn L.
2. Về con chung: Giao các con chung là cháu Nguyễn Tuấn P, sinh ngày 09/11/2011 và cháu Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 19/10/2015 cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Lê Thị Thu T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng/cháu. Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Chị Lê Thị Thu T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: chị Lê Thị Thu T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con, chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị T đã nộp sang án phí theo biên lai thu tiền số 0012198 ngày 21 tháng 05 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Chị T còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Cẩm Mỹ; - THADS huyện Cẩm Mỹ; - UBND xã Xuân Quế, h Cẩm Mỹ, t Đồng Nai; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký và đóng dấu) Trương Thị Thùy Trang |