vanban.org

Bản án 75/2023/HS — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 12/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/7/2023). Giao bị cáo Tài cho Ủy ban nhân dân phường TB, quận HC, thành phố ĐN nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trườn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Tài "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TK – TP. ĐN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2023/HS.ST
Ngày 12-7-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TK, THÀNH PHỐ ĐN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1) Ông Trần Lâm.

2) Ông Phạm Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm, Thư ký Toà án nhân dân quận TK, thành phố ĐN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận TK, thành phố ĐN tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận TK, thành phố ĐN, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng T, sinh ngày 09 tháng 8 năm 1990, tại thành phố ĐN; nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện tại: Tổ 25, phường TB, quận HC, thành phố ĐN; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn N (sinh năm 1964) và bà Nguyễn Thị X (sinh năm 1966); bị cáo là con thứ hai trong gia đình có năm anh em, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Lê Đức H, sinh năm 1997, địa chỉ: Số 249 đường TĐ, phường HA, quận CL, thành phố ĐN (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trọng Th, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ 25, phường TB, quận HC, thành phố ĐN (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 50 phút, ngày 15/01/2023, Nguyễn Trọng T điều khiển xe mô tô Honda Wave màu trắng đen bạc BKS 43C1- 971.99 đến tiệm sửa xe máy Phụng Hoàng ở số 97 đường Lý Thái Tổ, phường Thạc Gián, quận TK thành phố ĐN hỏi mua phụ tùng xe máy mang về nhà lắp ráp. Khi vào bên trong tiệm sửa xe, T phát hiện trên tủ chứa phụ tùng sửa xe có để 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 64Gb kèm ốp lưng nhựa trong suốt của anh Lê Đức H không có người trông coi. Tài liền lấy trộm chiếc điện thoại cất vào túi quần rồi đi ra ngoài, điều khiển xe 43C1-971.99 về nhà. Đến 17h30 cùng ngày, anh H phát hiện bị mất trộm điện thoại liền dùng định vị Icloud thì xác định điện thoại của anh H hiện đang ở tại vị trí nhà của Tài tại số 90C đường Hải Sơn, phường Thanh Bình, quận HC, thành phố ĐN. Đến 10 giờ 00 phút ngày 16/01/2023, anh H đến Công an phường Thạc Gián trình báo vụ việc bị mất trộm điện thoại và giao nộp 01 (một) USB ghi lại hình ảnh Tài trộm cắp điện thoại di động hiệu Iphone XS Max của anh Tài.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 64Gb, số sê ri G6TYJCAAKPHF có ốp lưng nhựa trong suốt đã qua sử dụng do Nguyễn Trọng T giao nộp tại Công an phường Thạc Gián. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận TK đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Đức H.

- 01 (một) USB bên trong chứa hai đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Trọng T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào lúc 15 giờ 50 phút, ngày 15/01/2023 tại tiệm sửa xe máy Phụng Hoàng ở số 97 đường Lý Thái Tổ, phường Thạc Gián, quận TK thành phố ĐN đã được niêm phong, đưa vào hồ sơ vụ án.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 03/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận TK, thành phố ĐN kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 64GB có giá trị 5.500.000 đồng, 01 ốp lưng nhựa đã qua sử dụng không còn giá trị.

Tại bản Cáo trạng số: 81/CT-VKS ngày 15 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận TK đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Tài từ 09 (chín) đến 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận TK đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Đức H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng dung lượng 64Gb có ốp lưng nhựa trong suốt đã qua sử dụng là đúng pháp luật; 01 (một) USB bên trong chứa hai đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Trọng T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào lúc 15 giờ 50 phút ngày 15/01/2023 lưu vào hồ sơ vụ án; đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu trắng đen bạc BKS 43C1- 971.99 do anh Nguyễn Trọng Th đứng tên chủ sở hữu thì ngày 15/01/2023, Tài mượn xe của Th đi mua phụ tùng lắp ráp xe. Anh Th không biết việc Tài sử dụng xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không xem xét, giải quyết. Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Đức H đã nhận lại điện thoại bị mất trộm không yêu cầu gì thêm.

Bị cáo Nguyễn Trọng T thống nhất với nội dung cáo trạng, thừa nhận hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, bị cáo rất ăn năn hối lỗi, đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên tòa, người bị hại ông Lê Văn H vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng những người này đã được lấy lời khai và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 và Điều 299 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận TK, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận TK và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo, bị hại, người liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Trọng T tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 15/01/2023, tại tiệm sửa xe máy Phụng Hoàng ở số 97 đường Lý Thái Tổ, phường TG, quận TK, thành phố ĐN, Nguyễn Trọng T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 64Gb của anh Lê Đức H với giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm ngàn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Viện kiểm sát nhân dân quận TK truy tố bị cáo với tội như trên là có căn cứ, đúng pháp luật, cần được chấp nhận.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Tội phạm mà bị cáo gây ra xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo Nguyễn Trọng T đã nhận thức được rằng việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật. Nhưng vì tham lam, muốn sở hữu tài sản mà không cần bỏ sức lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo đã chủ động sửa chữa, khắc phục H quả, giao nộp lại tài sản trộm cắp; hành vi của bị cáo gây thiệt hại không lớn; trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đây là những tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Nguyễn Trọng T có nhân thân tốt, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, vì vậy không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là lao động chính trong gia đình có bố mẹ lớn tuổi không có việc làm, nuôi em nhỏ bị khuyết tật về thần kinh mức độ nặng, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên xét thấy miễn phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Lê Đức H đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 64Gb, số sê ri G6TYJCAAKPHF có ốp lưng nhựa trong suốt đã qua sử dụng và 01 (một) USB bên trong chứa hai đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Trọng T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào lúc 15 giờ 50 phút, ngày 15/01/2023 tại tiệm sửa xe máy Phụng Hoàng ở số 97 đường Lý Thái Tổ, phường Thạc Gián, quận TK thành phố ĐN đã được niêm phong.

Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận TK đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 22a/QĐ-ĐTTH ngày 05/02/2023, trả lại cho người bị hại anh Lê Đức H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng, dung lượng 64Gb, số sê ri G6TYJCAAKPHF có ốp lưng nhựa trong suốt đã qua sử dụng. Việc trao trả các vật chứng trên là đúng quy định pháp luật qui định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Đối với 01 (một) USB bên trong chứa hai đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Trọng T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại anh Lê Đức H nên tiến hành niêm phong, lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu trắng đen bạc BKS 43C1-971.99 là phương tiện mà bị cáo Tài sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra đã làm rõ chiếc xe máy này nguồn gốc của ông Nguyễn Trọng Thảo, sinh năm 1997 (em ruột của bị cáo Tài) mua vào tháng 7/2020, hiện tại đang do ông Nguyễn Trọng Thquản lý, sử dụng. Khi giao xe này cho bị cáo Tài sử dụng, ông Thảo không biết bị cáo dùng làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vấn đề khác: Đối với ông Nguyễn Trọng Thlà người giao xe máy cho bị cáo Tài sử dụng, do ông Th không biết việc bị cáo Tài dùng xe máy này để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận TK không xem xét, xử lý đối với ông Th là đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/7/2023).

Giao bị cáo Tài cho Ủy ban nhân dân phường TB, quận HC, thành phố ĐN nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) USB bên trong chứa hai đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Trọng T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại anh Lê Đức H.

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Trọng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo Nguyễn Trọng T và người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/7/2023). Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ