vanban.org

Bản án 75/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 20/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Đình H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (12/6/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc xe đạp nữ màu xanh, có 02 nẹp tre ở hai bên, xe bị mất gác chắn bùn phía trước, xe đã q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN ĐÌNH HỢP - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:75/2023/HS-ST
Ngày: 20-07-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Văn Bắc

2. Ông Quản Giang Thao

- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 16/6/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HS ngày 10/7/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình H - Sinh năm 1972, tại phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Không; Con ông: Nguyễn Đình Đ - Sinh năm 1945 và con bà: Lê Thị X (Đã chết); Có vợ: Đỗ Thị G - Sinh năm 1975 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 1994;

Tiền án: Tại bản án sơ thẩm số 73/HSST ngày 31/7/1996 của TAND tỉnh Gia Lai đã xét xử bị cáo 10 năm tù về tội “Hiếp dâm”; Bản án hình sự phúc thẩm số 700 ngày 23/10/1996 của Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/7/2005, nhưng chưa thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm và chưa bồi thường dân sự.

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 20/3/2023 đến ngày 21/5/2023 tự ý bỏ đi khỏi địa phương nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã ra lệnh bắt để tạm giam và yêu cầu truy nã. Đến ngày 12/6/2023 bị cáo về địa phương và bị bắt tạm giam; có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại: Công ty cổ phần chế biến thủy sản Duyên Hải

Địa chỉ: Tổ dân phố Thượng Hải, phường Hải Thanh, thị xã Nghi Sơn

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh Ch – Sinh năm: 1951 (vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ dân phố Th, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa;

(Theo văn bản ủy quyền ngày 13/01/2023)

*Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N - Sinh năm: 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Tr, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 10/11/2022, Nguyễn Đình H đi xe đạp đến khu vực phía sau nhà máy của Công ty cổ phần chế biến thủy sản Duyên Hải thuộc tổ dân phố Thượng Hải, phường Hải Thanh, thị xã Nghi Sơn, thấy cửa sắt phía sau đang mở, không có ai trông coi nên H nảy sinh ý định vào nhà máy để trộm cắp tài sản. H dựng xe ở bờ tường rào rồi đi vào trong nhà máy, tại đây H thấy có 01 động cơ điện gồm 01 mô tơ có ký hiệu trên vỏ THREE PHASE INDUCTION MOTOR, phần vỏ mô tơ bị gỉ sét và 01 trụ kim loại màu trắng gắn chặt vào mô tơ, phần thân trụ có ký hiệu BL4. H bê chiếc mô tơ cùng trụ kim loại ra ngoài xe đạp chở về nhà cất giấu. Đến khoảng 08 giờ ngày 11/11/2022, H gặp chị Nguyễn Thị N đang đi mua sắt vụn nên đã gọi chị N vào nhà và bán chiếc mô tơ trên với giá 700.000 đồng; Số tiền này H đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Tại kết luận định giá tài sản số 132/KLĐGTS ngày 16/3/2023, hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã Nghi Sơn kết luận tài sản của Công ty cổ phần chế biến thủy sản Duyên Hải bị trộm cắp nêu trên, trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 14.000.000 đồng.

Ngoài lần trộm cắp tài sản nêu trên, quá trình điều tra còn xác định vào ngày 13/11/2022, Nguyễn Đình H còn thực hiện hành vi trộm cắp 01 bộ giá trục bi áp lực, 01 xích băng tải, 01 đầu ống nối của van bơm, 01 van hai đầu và 01 khay nhựa màu vàng tại nhà máy của Công ty cổ phần chế biến thủy sản Duyên Hải. Khi H vừa mang tài sản ra đến vị trí dựng xe đạp thì bị bảo vệ nhà máy là ông Nguyễn Thanh Ch phát hiện, nên H đã để lại xe đạp và tài sản trộm cắp rồi bỏ chạy. Tuy nhiên theo kết quả định giá, tổng giá trị tài sản lần trộm cắp này của H chỉ có 456.000 đồng và không thuộc một trong các trường H quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an thị xã Nghi Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H theo quy định của pháp luật.

Đối với chị Nguyễn Thị N là người đã mua chiếc mô tơ do bị can H trộm cắp đem bán, quá trình điều tra xác định chị N khi mua chiếc mô tơ trên không biết đây là tài sản trộm cắp nên không phạm tội. Khi biết thông tin về những tài sản này, chị N đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra để phục vụ công tác điều tra, xử lý vụ án.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng, gồm:

+ 01 chiếc xe đạp nữ màu xanh, có 02 nẹp tre ở hai bên (của Nguyễn Đình H ) và 01 bộ giá trục bi áp lực; 01 xích băng tải 20; 01 đầu ống nối của van bơm; 01 van hai đầu; 01 khay nhựa màu vàng (Do ông Nguyễn Thanh Ch giao nộp).

+ 01 mô tơ có chiều dài 35cm, đường kính 20cm, ký hiệu trên vỏ THREE PHASE INDUCTION MOTOR, phần vỏ mô tơ bị gỉ sét gắn với 01 trụ kim loại màu trắng có đường kính 15cm, dài 75cm gắn chặt vào mô tơ, phần thân trụ có ký hiệu BL4 (Do chị Nguyễn Thị Nga giao nộp).

Sau khi xác minh nguồn gốc đồ vật, tài sản thu giữ và tiến hành định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 bộ giá trục bi áp lực; 01 xích băng tải 20; 01 đầu ống nối của van bơm; 01 van hai đầu; 01 khay nhựa màu vàng và chiếc mô tơ điện nêu trên cho Chủ sở hữu tài sản là Công ty cổ phần chế biến thủy sản Duyên Hải (ông Nguyễn Thanh Ch là người được ủy quyền nhận tài sản).

Vật chứng còn lại là chiếc xe đạp thu giữ nêu trên, là phương tiện phạm tội, hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty cổ phần chế biến thủy sản Duyên Hải đã được nhận lại các tài sản bị trộm cắp và Nguyễn Đình H cũng đã hoàn trả lại cho chị Nguyễn Thị N số tiền 700.000 đồng mà chị đã bỏ ra để mua chiếc mô tơ H trộm cắp nên Công ty cổ phần chế biến thủy sản Duyên Hải và chị N không có yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự.

Bản cáo trạng số 81/CT-VKSNS ngày 16/6/2023 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Đình H.

- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Đình H từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (12/6/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

+ Công ty cổ phần chế biến thủy sản Duyên Hải đã được nhận lại các tài sản bị trộm cắp.

+ Nguyễn Đình H đã trả lại cho chị Nguyễn Thị N số tiền 700.000 đồng là tiền chị Nga đã bỏ ra để mua chiếc mô tơ H trộm cắp

Cả công ty cổ phần chế biến thủy sản Duyên Hải và chị N đều đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.

+ Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc xe đạp nữ màu xanh, có 02 nẹp tre ở hai bên, xe bị mất gác chắn bùn phía trước, xe đã qua sử dụng.

- Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều H pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo Nguyễn Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù H với tang vật vụ án, lời khai của bị hại, người làm chứng và phù H với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà hôm nay. Do đó có đủ căn cứ để khẳng định VKSND thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng.

Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đủ năng lực về mọi mặt để nhận thức được “Trộm cắp tài sản” là hành vi vi phạm pháp luật và là tội phạm. Song, do muốn có nhiều tiền để tiêu sài cá nhân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử buộc phải chịu một hình phạt là cần thiết và cần phải có đường lối xử lý tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện trả lại số tiền đã bán tài sản trộm cắp cho chị N. Nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đó là “Tái phạm”.

Cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, với nhân thân của bị cáo như trên nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra đã trả lại 01 bộ giá trục bi áp lực; 01 xích băng tải 20; 01 đầu ống nối của van bơm; 01 van hai đầu; 01 khay nhựa màu vàng và chiếc mô tơ điện nêu trên cho Chủ sở hữu tài sản là Công ty cổ phần chế biến thủy sản Duyên Hải.

- Bị cáo Nguyễn Đình H đã trả lại cho chị Nguyễn Thị N số tiền 700.000 đồng là tiền chị Nga đã bỏ ra để mua chiếc mô tơ H trộm cắp.

Cả Công ty cổ phần chế biến thủy sản Duyên Hải và chị N đều đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên HĐXX không xem xét.

- Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc xe đạp nữ màu xanh, có 02 nẹp tre ở hai bên, xe bị mất gác chắn bùn phía trước, xe đã qua sử dụng.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Đình H .

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Nguyễn Đình H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (12/6/2023). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc xe đạp nữ màu xanh, có 02 nẹp tre ở hai bên, xe bị mất gác chắn bùn phía trước, xe đã qua sử dụng.

(Theo phiếu nhập kho số NK2023/63 ngày 18 tháng 7 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn)

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Đình H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo được quyền kháng cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi nơi có trụ sở.

Trường H bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ