vanban.org

Bản án 75/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 13/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Truy thu sung vào ngân sách nhà nước của Nguyễn Đắc C số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự;… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đắc C phạm tội "Cướp giật tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2023/HS-ST
Ngày 13 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Hiền; Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Đường B2, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2023/TLST- HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đắc C - Sinh ngày 11 tháng 10 năm 1989 tại Huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai

Nơi cư trú: Tổ 13, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đắc C, con bà Nguyễn Thị N; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số: 206/2008/HSST ngày 30/9/2008 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Đắc C 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong được xóa án; Bản án số: 08/2016/HSST ngày 19/01/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai đã xử phạt Nguyễn Đắc C 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” Ngày 04/10/2018, Nguyễn Đắc C đã chấp hành xong hình phạt tù đã được xóa án; Quyết định số: 5199/QĐ-UBND ngày 29/11/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Bảo Thắng về việc áp dụng biện pháp đưa vào nghiện ma túy thời hạn 12 tháng. Ngày 29/11/2012 chấp hành xong; Quyết định số: 2132/QĐ-UBND ngày 13/5/2013 của Ủy ban nhân dân huyện Bảo Thắng về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai chữa bệnh thời hạn 12 tháng, ngày 20/5/2014 chấp hành xong

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai “Có mặt”.

- Bị hại: Cháu Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 09/7/2006 - Nơi cư trú: Tổ 33, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Vắng mặt”. Người đại diện cho cháu Q: Bà Nguyễn Thị N (mẹ đẻ cháu Q) - Nơi cư trú: Tổ 33, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 03/4/2023, Nguyễn Đắc C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision biển kiểm soát 24B2 - 548.98 đi từ nhà tổ 13, phường B, thành phố L đến đường Trung Đô thuộc tổ 17, phường Kim Tân. Khi Nguyễn Đắc C vừa rẽ vào đường Trung Đô thì nhìn thấy Nguyễn Ngọc Q (sinh ngày 09/7/2006, trú tại tổ 33, phường C, thành phố L) điều khiển xe máy điện biển kiểm soát 24MĐ1 - 159.25 chở theo Bùi Thanh T (sinh ngày 15/02/2006, trú tại số nhà 002, ngõ Đ, phường C, thành phố L) là bạn cùng lớp đi vượt lên, Nguyễn Đắc C nhìn thấy tại ngăn để đồ phía bên trái dưới tay lái có để 01 điện thoại di động đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại. Nguyễn Đắc C liền điều khiển xe mô tô tăng tốc, chạy song song và áp sát phía bên trái của xe máy điện do Nguyễn Ngọc Q điều khiển. Khi đến vị trí đối diện cổng Công viên Nhạc Sơn thì khoảng cách giữa xe máy của Nguyễn Đắc C và xe máy điện còn khoảng 30 cm, Nguyễn Đắc C dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động để ở ngăn đựng đồ xe máy điện rồi lái xe máy bỏ chạy theo hướng đi đường Hoàng Liên và đi đến cầu Phố Mới thì dừng lại, Nguyễn Đắc C thấy điện thoại vừa cướp giật được có nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen, màn hình có khóa mật khẩu, Nguyễn Đắc C tháo sim và ốp điện thoại ném xuống sông Hồng. Sau đó, Nguyễn Đắc C cầm điện thoại vừa cướp giật được đến bán cho Nguyễn Văn T (sinh năm 1980, trú tại số nhà 355 đường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai) với giá 1.800.000 đồng, số tiền này Nguyễn Đắc C đã tiêu xài cá nhân hết

Tại kết luận định giá tài sản số: 30/KL-HĐĐG ngày 07/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Lào Cai xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, vỏ màu đen 64GB có giá trị 4.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Đắc C về tội "Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 điều 171; Điều 38; Điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc C phạm tội "Cướp giật tài sản”, xử phạt bị cáo với mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Truy thu sung vào ngân sách nhà nước của Nguyễn Đắc C số tiền 1.800.000 đồng do phạm tội mà có

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, người bị hại theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 03/4/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision biển kiểm soát 24B2 - 548.98 đi từ nhà tại tổ 13, phường B, thành phố L đến đường Trung Đô, phường Kim Tân. Khi bị cáo vừa rẽ vào đường Trung Đô thì nhìn thấy cháu Nguyễn Ngọc Q điều khiển xe máy điện chở theo Bùi Thanh T đi vượt lên, bị cáo nhìn thấy tại ngăn để đồ phía bên trái dưới tay lái có để 01 điện thoại di động nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại nên đã điều khiển xe tăng tốc, chạy song song và áp sát phía bên trái của xe máy điện do Nguyễn Ngọc Q điều khiển. Khi đến vị trí đối diện cổng Công viên Nhạc Sơn thì khoảng cách giữa xe máy của bị cáo và xe máy điện còn khoảng 30 cm, bị cáo dùng tay phải giật lấy điện thoại để ở ngăn đựng đồ xe máy điện rồi lái xe máy bỏ chạy theo hướng đi đường Hoàng Liên và đi đến cầu Phố Mới thì dừng lại tháo sim và ốp điện thoại ném xuống sông Hồng. Sau đó, bị cáo cầm điện thoại đến bán cho Nguyễn Văn T được 1.800.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nguyễn Đắc C đã điều khiển mô tô cướp giật 01 điện thoại di động có giá trị 4.000.000 đồng của cháu Nguyễn Ngọc Q. Bị cáo đã dùng thủ đoạn nguy hiểm để thực hiện việc cướp giật vì vậy đã có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn Đắc C phạm tội "Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, bị cáo có nhân thân xấu vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật hình sự quy đinh “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo không có tài sản, thu nhập gì, lại nghiện ma tuý. Vì vậy Hội đồng xét xử định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max đã trả lại cho Nguyễn Ngọc Q; Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, biển kiểm soát 24B2 - 548.98 cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Phương T là đúng quy định của pháp luật. Đối với số tiền bị cáo bán chiếc điện thoại cho anh Nguyễn Văn T 1.800.000 đồng anh T không yêu cầu bồi thường cần truy thu sung vào ngân sách Nhà nước

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 điều 171; Điều 38; Điểm h, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc C phạm tội “Cướp giật tài sản”. Phạt bị cáo Nguyễn Đắc C 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 04/4/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Truy thu sung vào ngân sách nhà nước của Nguyễn Đắc C số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đắc C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ